Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

Khai thông thị trường xuất khẩu lao động Hàn Quốc

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ: doanh nghiệp tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng sẽ bị phạt tiền từ 20 - 40 triệu đồng nếu có hành vi không báo cáo danh sách lao động xuất cảnh với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài theo quy định hoặc không phối hợp với các cơ quan này trong việc quản lý và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài.


Tháng 8/2012, thị trường lao động Hàn Quốc quyết định loại Việt Nam ra khỏi danh sách tuyển dụng lao động nước ngoài năm 2013. Việc làm này đã khiến cho hơn 15 nghìn hồ sơ lao động Việt Nam bị tồn ứa, người lao động thấp thỏm chờ việc.

Để khắc phục tình trạng này, phía Việt Nam đã tích cực giải quyết vấn đề bên phía Hàn Quốc yêu cầu. Kết quả đến 9/9/2013, Bộ Lao động và Thương binh xã hội Việt Nam (Bộ LĐ&TBXH) và Bộ lao động và Việc làm Hàn Quốc đã ký thỏa thuận tiếp tục đưa người lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm (EPS).

Thị trường xuất khẩu lao động Hàn Quốc đóng băng
Từ năm 2011, cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc đã khuyến cáo: Nếu Việt Nam không cải thiện được tình hình lao động bỏ trốn, thì nguy cơ dừng hợp tác lao động theo chương trình EPS là khó tránh khỏi.
Trước lời cảnh báo đó, bên phía Việt Nam đã cố gắng khắc phục tình trạng lao động bỏ trốn nhưng không khả quan. Số lao động hết hạn hợp đồng không hề giảm mà ngày càng tăng cao, trên 50% (khoảng 11.000 lao động). Trước tình hình đó, tháng 8/2012, Hàn Quốc quyết định không ký lại thỏa thuận hợp tác lao động, chính thức dừng tuyển mới lao động Việt Nam.

Giải thích cho việc Hàn Quốc loại Việt Nam ra khỏi danh sách tuyển dụng mới 2013, ông Lương Đức Long, Phó giám đốc Trung tâm Lao động ngoài nước cho biết: “Mặc dù số lượng tuyển dụng lao động nước ngoài năm 2013 của Hàn Quốc lên tới 62.000, tăng 8% so với năm 2013. Trong đó có 52.000 được tuyển mới nhưng do chúng ta chưa cải thiện được tình trạng lao động bỏ trốn nên Hàn Quốc không cấp chỉ tiêu hồ sơ mới theo hạn ngạch tuyển lao động nước ngoài năm 2013 theo chương trình cấp phép lao động EPS cho Việt Nam nữa”.

Ông Long cho biết thêm: “Phía Hàn Quốc yêu cầu Việt Nam phải giảm được tỷ lệ lao động bỏ trốn xuống dưới 40%. Tuy nhiên, Kết quả giải quyết lao động bỏ trốn được phía Hàn Quốc tính toán theo từng quý và ở hầu hết các quý, tỉ lệ lao động bỏ trốn vẫn ở mức trên 50%. Chẳng hạn ở quý II/2012, trong số khoảng 2.000 lao động hết hạn hợp đồng vẫn có trên 1.200 lao động không về nước. Đến quý III/2012, khoảng 1.500/2.500 lao động hết hạn hợp đồng tiếp tục bỏ trốn”.

Do quyết định ngưng tuyển lao động Việt Nam nên trong tổng số 13.958 hồ sơ của kỳ thi tiếng Hàn đợt tháng 12/2011 được gửi lên mạng chỉ có 2.816 hồ sơ được lựa chọn (chiếm 20,2%), số còn lại phải chờ hạn ngạch tuyển dụng của năm 2013. Nhưng trong những tháng đầu năm 2013, thị trường lao động Hàn Quốc vẫn còn e dè trong tuyển dụng mới lao động Việt Nam.

Một điều đáng ghi nhận là dù tạm ngưng tuyển lao động Việt Nam, nhưng năm 2012 tính riêng chương trình EPS, phía Hàn Quốc vẫn tiếp nhận 7.252 lao động Việt Nam. Dù giảm hơn 5000 so với năm 2011 nhưng điều đó chứng tỏ thị trường xuất khẩu lao động Hàn Quốc vẫn rất ưu ái cho lao động Việt Nam.

Thị trường xuất khẩu lao động Hàn Quốc khai thông trở lại
Sau thời gian thị trường lao động Hàn Quốc đóng cửa đối với lao động Việt Nam, đến đầu tháng 9/2013 từ những nổ lực phía chúng ta cũng đã ký được thỏa thuận mới về việc khai thông thị trường lao động Hàn Quốc. Dù chỉ là bản thỏa thuận tạm thời nhưng sẽ góp phần giải quyết được tình trạng “tồn” lao động cho chúng ta trong thời gian qua.

Theo Bộ LĐTB&XH, nếu thuận lợi, 4 nhóm đối tượng thuộc diện ưu tiên sẽ có cơ hội sang làm việc tại Hàn Quốc ngay trong năm nay. Cụ thể gồm: 11.096 lao động đã đỗ các kỳ kiểm tra năng lực tiếng Hàn theo chương trình EPS vào tháng 12/2011 và tháng 8/2012; 755 ứng viên thuộc huyện nghèo đã đăng ký kiểm tra TOPIK - EPS tháng 8/2012 nhưng chưa được tham gia kiểm tra; hơn 2.000 lao động về nước đúng hạn, đã đỗ kỳ kiểm tra TOPIK - EPS trên máy tính mà chưa sang lại Hàn Quốc và các lao động trong ngành ngư nghiệp.

Như vậy, với bản ghi nhớ đặc biệt này đã tạo điều kiện cho số lao động đang tồn có cơ hội làm việc trở lại. Hiện đã có khoảng 52% hồ sơ thi tuyển trên mạng được lựa chọn. Đối với những hồ sơ lao động hết hạn và về nước theo đúng quy định nếu trong vòng 20 ngày không được chủ sử dụng cũ lựa chọn sẽ được chuyển sang nhóm lao động mới.

Thêm một tin vui nữa cho lao động nước ngoài tại Hàn Quốc là Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc đã ra thông báo về mức lương tối thiểu áp dụng cho người lao động nước ngoài từ 1/1/2013 đến 31/12/013 sẽ từ 1.000-1.500 USD/tháng, cao nhất là 1.300-1.700 USD/tháng (khoảng 26-35 triệu đồng/tháng).

Ông Phan Văn Minh, Giám đốc Trung tâm Lao động ngoài nước, Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ&TBXH) cho biết: “Từ nay đến cuối năm Trung tâm sẽ thông báo rộng rãi cho các tỉnh nhu cầu tuyển dụng đi làm việc trở lại nếu lao động nào có nhu cầu. Người lao động có thể học tiếng ngay tại địa phương để giảm chi phí. Với lao động nông nghiệp ở các huyện nghèo (khả năng học tiếng nước ngoài khó hơn), Trung tâm cũng đang nghiên cứu để yêu cầu các doanh nghiệp tăng thời gian học tiếng để đảm bảo yêu cầu”.

Nghị định mới đối với lao động bỏ trốn
Để giải quyết tình trạng lao động bỏ trốn tại Hàn Quốc, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của những lao động khác, Chính phủ đã ra Nghị định 95/2013/NĐ-CP, về việc ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc. Theo đó, người lao động trước khi đi làm việc tại Hàn Quốc phải ký quỹ 100 triệu đồng. Nghị định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/10. Nhằm siết chặt tình trạng lao động bỏ trốn tại Hàn Quốc, từ 10/10/2013, sẽ phạt 100 triệu đồng nếu lao động hết hạn hợp đồng nhưng không về nước; bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng; bỏ trốn tại sân bay sau khi nhập cảnh Hàn Quốc; lôi kéo dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt lao động Việt Nam ở lại cư trú bất hợp pháp.

Ngoài việc phạt 100 triệu đồng, những lao động này buộc về nước và không được đi làm việc trong 2 năm (nếu bỏ trốn tại nơi cư trú), 5 năm nếu bỏ trốn tại sân bay và dụ dỗ người khác ở lại Hàn Quốc trái quy định. Nếu tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng (từ ngày 10/10/2013 đến ngày 10/1/2014), lao động đã bỏ trốn sẽ được miễn xử phạt hành chính.

Quyết định cũng nêu rõ, người lao động thuộc đối tượng vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để đi làm việc ở nước ngoài được vay tối đa 100 triệu đồng tại Ngân hàng Chính sách xã hội để ký quỹ. Trường hợp người lao động hoàn thành hợp đồng về nước đúng hạn, người lao động bị chết trong thời gian làm việc theo hợp đồng hoặc phải về nước trước hạn do điều kiện khách quan (thiên tai, ốm đau, tai nạn...), người lao động không đi làm việc tại Hàn Quốc sau khi đã nộp tiền ký quỹ thì khoản tiền này (bao gồm cả gốc và lãi) sẽ được hoàn trả cho người lao động.

Trường hợp, nếu người lao động về nước trước thời hạn do vi phạm hợp đồng thì tiền ký quỹ sẽ được sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra; nếu còn thừa sẽ được trả lại cho người lao động; nếu không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung. Nếu người lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc hết hạn hợp đồng không về nước đúng hạn, ở lại cư trú và làm việc trái phép tại Hàn Quốc, tiền ký quỹ sẽ không được hoàn trả.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ: doanh nghiệp tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng sẽ bị phạt tiền từ 20 - 40 triệu đồng nếu có hành vi không báo cáo danh sách lao động xuất cảnh với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài theo quy định hoặc không phối hợp với các cơ quan này trong việc quản lý và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

Như vậy, từ tháng 10/2013 thị trường xuất khẩu lao động Hàn Quốc chính thức mở cửa tuyển dụng lao động Việt Nam trở lại làm việc. Hy vọng với bản cam kết mới giữa hai nước và nghị định 95 về quy định mới trong việc xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc sẽ mang lai nhiều điểm tích cực, mở ra một con đường mới cho người lao động Việt Nam muốn xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc nói riêng và các nước khác trên thế giới nói chung.

Nên sử dụng tiền lương như thế nào trong thời bão giá?

Bất kể điều gì muốn thành công cũng nên được chuẩn bị từ trước và nên có một kế hoạch cụ thể. Chi tiêu cũng không ngoại lệ. Bạn nên lập kế hoạch cụ thể, đặc biệt là khi cần chi ra những khoản tiền lớn, ảnh hưởng đến các khoản mục chi tiêu khác. Nếu chúng là quá lớn, thì bạn nên chia nhỏ ra, ví dụ như thay vì sẽ mua ngay tháng này thì có thể trì hoãn lại vào tháng sau, như vậy khoản chi của bạn sẽ tạm thời được “chia đôi”.

Có lẽ khi nhắc đến cụm từ “khủng hoảng kinh tế”, nhiều người trong chúng ta sẽ nghĩ rằng, đó là chuyện “đâu đâu”, chuyện của “cấp cao” hơn, không liên quan đến mình. Nhưng có một thực tế là những “hậu quả” của khủng hoảng kinh tế thì lại là “chuyện không của riêng ai”. Vật giá leo thang, mọi thứ đều tăng giá, chỉ trừ mỗi… tiền lương, đang là nỗi lo của nhiều người. Làm thế nào để đảm bảo cuộc sống khi mà chi phí tăng cao trong khi thu nhập là không đổi? Có lẽ đây đang là một bài toán khó mà tìm đáp số “hoàn hảo”, và việc thực hiện cũng không hề là dễ dàng.

1. Cắt giảm, cắt giảm và cắt giảm…
Lược bỏ những khoản chi tiêu không cần thiết là điều bắt buộc để đảm bảo cho cuộc sống. Tuy nhiên, tiết kiệm không có nghĩa là cắt giảm ở tất cả các khoản chi, bởi vì có những nhu cầu là thiết yếu, và bạn cần phải đảm bảo cho chúng, cho dù có khó khăn đến đâu. Việc cắt giảm nên được tập trung ở những khoản “không cần thiết” hoặc “chưa cần thiết”. Bạn có thể sẽ bất ngờ vì danh sách này nếu liệt kê chúng ra giấy! Tiếp tục làm một phép tính trừ cho những khoản này, bài toán của bạn sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

2. Ghi chép thận trọng
Một quyển sổ dùng để ghi chép, tính toán các khoản thu nhập, chi tiêu là cần thiết để bạn chắc chắn rằng sẽ không có những trường hợp như “Sao mình chỉ còn lại bao nhiêu đây tiền?”, “Mình đã mua cái gì với số tiền ấy?”, “Bây giờ làm sao với chỉ bao nhiêu đây tiền trong ví?”… Việc các con số hiện ra rõ ràng giúp bạn tránh các câu hỏi “vì sao”, và kiểm soát được tiền lương của mình đang đi đâu. Tập ghi chép thành thói quen cũng sẽ giúp bạn cẩn trọng hơn và suy nghĩ nhiều hơn khi sử dụng tiền. Tất nhiên là việc ghi chép nên ở một mức độ “chấp nhận được”, đừng nên quá nhỏ nhặt và chi tiết để tránh lãng phí thời gian của chính bạn.

3. Đừng quên các chương trình khuyến mãi
Để tiết kiệm hơn thì bạn đừng bỏ qua các chương trình này nhé. Tuy nhiên một lưu ý là khuyến mãi chính là con dao hai lưỡi. Rẻ hơn khuyến khích bạn mua nhiều hơn, và vô tình bạn lại chi ra cho những khoản “chưa cần thiết”, kết quả là lại không kiểm soát được chi tiêu của mình. Một lần nữa nên chú ý tính toán cẩn thận hơn cho các khoản chi của mình.

4. Lập kế hoạch chi tiêu hợp lí nhất
Bất kể điều gì muốn thành công cũng nên được chuẩn bị từ trước và nên có một kế hoạch cụ thể. Chi tiêu cũng không ngoại lệ. Bạn nên lập kế hoạch cụ thể, đặc biệt là khi cần chi ra những khoản tiền lớn, ảnh hưởng đến các khoản mục chi tiêu khác. Nếu chúng là quá lớn, thì bạn nên chia nhỏ ra, ví dụ như thay vì sẽ mua ngay tháng này thì có thể trì hoãn lại vào tháng sau, như vậy khoản chi của bạn sẽ tạm thời được “chia đôi”.

5. Quỹ dự phòng là bắt buộc
Không phải là kiểu “quỹ đen” cho các mục đích “không trong sáng” đâu nhé! Quỹ dự phòng là cần thiết cho các khoản chi bất ngờ, ngoài dự kiến và kế hoạch của bạn, để tránh trường hợp “không biết làm sao”, “không biết mượn ai”. Tốt nhất bạn nên giữ quỹ này ở khoảng từ 5-10% tiền lương của mình là hợp lí để tránh những lo lắng không cần thiết. Đây cũng là cách bạn tạo sự an tâm cho chính mình khi đứng trước những khó khăn về tài chính.

Thi trường lao động 6 tháng vào cuối năm hứa hẹn nhiều khởi sắc

Đáp lại kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh của DN những tháng còn lại trong năm 2013, hiện nay có 66,7% DN giữ nguyên quy mô; 22% có thể mở rộng quy mô; 10,9% giảm quy mô và chỉ có 0,3% có thể ngưng hoạt động. Kết quả này cho thấy tín hiệu tích cực về niềm tin của doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh đã được khôi phục.


Trong 6 tháng đầu năm 2013, tình hình lao động trong nước không có nhiều biến động. Số lượng lao động thất nghiệp và nhảy việc giảm rõ rệt. Các doanh nghiệp (DN) đã phần nào thoát khỏi tình trạng trì trệ sản xuất. Dự báo trong 6 tháng cuối năm tình hình lao động vẫn tiếp tục ổn định và phát triển.
 
1. Tình hình lao động 6 tháng đầu năm
Nhìn chung tình hình nguồn lao động trong 6 tháng đầu năm ổn định hơn so với những năm trước. Tình trạng nhảy việc và thiếu hụt lao động sau tết Nguyên đán không còn. Việc đó đã phần nào giúp các DN sớm ổn định được sản xuất, tuy nhiên còn rất nhiều DN vẫn chưa thể thoát khỏi khó khăn về tài chính, không ít DN phải tuyên bố giải thể, ngừng hoạt động.

Một điểm đáng ghi nhận nữa về tình hình lao động trong 6 tháng đầu năm 2013 là tình trạng tranh chấp lao động tập thể, đình công (TCLĐTT – ĐC) giảm nhiều. Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, trong 6 tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bình Dương xảy ra 54 vụ (TCLĐTT-ĐC) tại 53 DN với hơn 12 nghìn người tham gia, giảm 61% so với cùng kỳ năm 2012 (6 tháng đầu năm 2012 xảy ra 139 vụ). Thời gian TCLĐTT-ĐC diễn ra trong thời gian từ 2 - 5 ngày, trong đó, tranh chấp có liên quan đến lợi ích chiếm 65%.

Doanh nghiệp dần ổn định sản xuất
Theo UBND TP. Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm, mặc dù tình hình kinh tế còn gặp nhiều khó khăn song sản xuất kinh doanh của nhiều DN đã phục hồi mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng khá. Trong 26 ngành sản xuất, có 22 ngành có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung. GDP toàn thành phố 6 tháng đầu năm đạt 340.654 tỷ đồng (tăng 7,9%). So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu đạt 13.708 triệu USD, tăng 6,2%. Chỉ số phát triển công nghiệp tăng 5,2% so với cùng kỳ. Trong tháng 6/2013, chỉ số tồn kho giảm 0,26% so với tháng trước.

Ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM cho biết: Hiện các DN đang từng bước sắp xếp, tuyển dụng lại lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Các DN mới thành lập cũng cân nhắc chặt chẽ cơ cấu lao động để tuyển dụng cho hợp lý.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung còn rất nhiều DN vẫn rơi vào tình trạng khó khăn và phải giải thể hoặc ngừng sản xuất. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm có 26.324 DN giải thể, ngừng hoạt động, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước.

Do nhiều DN chưa thể ổn định sản xuất nên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tuyển dụng lao động. Theo ông Vũ Trung Chính, Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội: Nhu cầu tuyển dụng lao động trong những tháng đầu năm 2013 đang ở mức đáy của nhu cầu. Những DN có nhu cầu tuyển dụng trong thời gian này chủ yếu để bù vào số lượng lao động nghỉ việc. Bên cạnh đó, lao động có tay nghề được yêu tiên hàng đầu.

Như vậy cho thấy nhu cầu của các DN trong đầu năm 2013 rất hạn chế. Các DN không bị rơi vào tình trạng khát nhân lực như trước đây. Hơn nữa, các DN khi tuyển dụng cũng đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng lượng nguồn nhân lực chứ không tuyển dụng ồ ạt. Điều này đã giúp tiết kiệm được một khoản kinh phí rất lớn cho các DN trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay.

Lao động đăng ký thất nghiệp giảm
Theo thống kê của trung tâm Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm thành phố có 239.909 lao động mất việc do DN giải thể, ngừng hoạt động. Tuy nhiên chỉ có 37.030 lao động làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp (chiếm 15% số lao động nghỉ việc). So với cùng kỳ năm 2012, số lượng lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp giảm 19,9%.

Trong 6 tháng đầu năm 2013, số lượng lao động phổ thông được tuyển dụng rất ít, chỉ khoảng vài trăm người và đều được yêu tiên cho những lao động có tay nghề, kinh nghiệm hoặc phải đảm nhận được nhiều vị trí khác nhau trong công việc.

DN tuyển dụng khó khăn đã khiến cho tâm lý người lao động cũng thay đổi theo. Thay vì nhảy việc, đình công, tìm một công việc khác lương cao hơn thì họ phải cố bám việc. Lao động có trình độ cao đẳng, đại học nhu cầu tuyển dụng lại càng ít hơn, chủ yếu là công ty mới thành lập hoặc các dự án mới triển khai. Vì thế ổn định nơi làm việc và mức lương là tâm lý chung của người lao động trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình lao động 6 tháng cuối năm sẽ khởi sắc
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các DN đang cố gắng ổn định sản xuất và tìm giải pháp thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Theo dự báo trong 6 tháng cuối năm 2013, tình hình lao động sẽ có nhiều thay đổi theo chiều hướng khởi sắc hơn.

Theo Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TPHCM (FALMI), thị trường lao động 6 tháng cuối năm sẽ có nhu cầu tuyển dụng khoảng 130.000 lao động, bao gồm lao động thay thế và tuyển mới của các DN. Cụ thể, trong quí III sẽ khoảng 70.0000 lao động, và quí IV sẽ ở mức 60.000 lao động.

Nhu cầu tuyển dụng tập trung ở một số ngành như marketing – nhân viên kinh doanh – bán hàng, dịch vụ phục vụ, công nghệ thực phẩm, dịch vụ du lịch – nhà hàng – khách sạn, kho bãi – vận tải – xuất nhập khẩu, công nghệ thông tin, cơ khí, điện tử…Trong tổng số nhu cầu, tại các KCX – KCN thành phố có nhu cầu tuyển dụng 10.000 chỗ làm việc, tập trung ở các nhóm ngành như: dệt may – da giày, cơ khí, công nghệ thực phẩm, nhựa – bao bì, điện tử…

Theo ông Nguyễn Tấn Định, Phó Ban quản lý các KCN-KCX TP.HCM: Nhiều DN có dấu hiệu phục hồi và khởi sắc. Một số DN hoạt động trong các ngành nghề như lương thực, thực phẩm, cơ khí, dệt may... đang có nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất trở lại nên đăng thông tin tuyển dụng lao động. Những DN này đang có đơn hàng đến hết quý 3, thậm chí đến cuối năm.

Như vậy, nhìn chung tình hình lao động trong 6 tháng cuối năm cũng sẽ có nhiều chuyển biến tích cực so với những tháng đầu năm. Việc chú trọng khắc phục khó khăn, mở rộng sản xuất hứa hẹn sẽ tạo thêm nhiều việc làm mới, giúp ổn định đời sống cho người lao động. Bên cạnh đó cũng có nhiều chính sách nhằm khuyến khích DN phục hồi, đầu tư và mở rộng sản xuất trong thời gian tới.

Để giúp DN vượt qua khó khăn, chính phủ cũng đã có những giải pháp như hỗ trợ các DN tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, giảm lãi xuất vay. Đặc biệt là hỗ trợ gói 30.000 tỷ nhằm cứu ngành xây dựng. Với chính sách này, DN đã có thể tiếp cận lại với nguồn vốn vay để đầu tư vào nhiều lĩnh vực và sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động. Do đó từ quý III, nhiều khả năng thị trường việc làm sẽ sôi động hơn. Lúc đó đời sống, việc làm và thu nhập của người lao động sẽ bớt khó khăn hơn. Đồng thời, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp cũng được chú trọng hơn bởi đây là bến dừng chân quan trọng cho những lao động khi tạm thời không có việc làm.

Đáp lại kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh của DN những tháng còn lại trong năm 2013, hiện nay có 66,7% DN giữ nguyên quy mô; 22% có thể mở rộng quy mô; 10,9% giảm quy mô và chỉ có 0,3% có thể ngưng hoạt động. Kết quả này cho thấy tín hiệu tích cực về niềm tin của doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh đã được khôi phục.

Nhìn chung tình hình lao động trong năm 2013 không có nhiều biến động. Tình trạng khan hiếm lao động không còn diễn ra như những năm gần đây. Các DN cũng cố gắng khắc phục tình trạng khó khăn, mở rộng sản xuất nhằm góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Với những việc làm thiết thực của cả DN và người lao động hứa hẹn sẽ mang lại nhiều khởi sắc trong những tháng cuối năm này.

Sinh viên : tốt nghiệp và sự thất nghiệp

Sinh viên thiếu năng lực, kỹ năng mềm: “có thể nói 90% sinh viên khi ra trường đều thiếu kỹ năng mềm, bằng cấp là quan trong nhưng năng lực thật sự và kinh nghiệm của các bạn mới là yếu tố quyết định”Anh Trần Trọng Thành, chủ tịch HĐQT công ty VINAPO nhấn mạnh điều này trong buổi trao đổi với sinh viên trong tại cuộc tọa đàm “Tự tin nghề marketing”.


“Chưa kịp mừng vui vì dứt được gánh nặng học hành, bước vào vòng xoay cơm áo gạo tiền, nhiều cựu sinh viên lại phải đối mặt với nỗi lo mới : thất nghiệp…”

Những năm gần đây các trường ĐH, CĐ trong cả nước mọc lên như nấm. Do không có một cơ quan nhà nước nào quy định việc tuyển sinh, nên tình trạng tuyển sinh ồ ạt - vô tội vạ diễn ra ở hầu hết các trường. Số lượng sinh viên tăng một cách chóng mặt, dẫn đến một loạt các vấn đề bất cập như: cơ sở vật chất, số lượng giảng viên không đủ đáp ứng cho nhu cầu giảng dạy, chất lượng giáo dục càng thấp… Kéo theo một hệ lụy đáng buồn là tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi tốt nghiệp ngày càng đông.

“Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu sinh viên thuộc năm khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006-2010) của ba đại học: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và ĐH Huế, đã cho thấy những con số báo động. Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo.

Trong số này, 46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công. 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là... tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác. Thậm chí, có 27% cử nhân được hỏi cho biết, họ rất khó kiếm việc làm do ngành học của mình không phù hợp với thị trường. Số người rơi vào cảnh nhà tuyển dụng không hiểu về ngành học cũng chiếm tới 18%.”

Bi đát vì thất nghiệp
Thực tế không ít sinh viên phải chấp nhận làm các công việc không liên quan gì đến ngành mình học, một số khác lại chấp nhận làm các công viêc phổ thông vì không xin được việc làm. Theo chân Bích Vân(*) trong một buổi “chạy chợ” cho một nhãn hàng mì gói, chúng tôi mới cảm nhận hết sự nhọc nhằn hằn trên khuôn mặt đen sạm vì nắng của cô. Nước mắt chực trào, Vân tâm sự “ hy vọng bao nhiêu thì thất vọng bấy nhiêu thôi anh . Em tốt nghiệp loại giỏi trường CĐ Du Lịch SG, chạy vạy xin việc khắp nơi nhưng tất cả đều từ chối, xin vào làm quản lý cho nhà hàng thì họ nhận vào làm bồi bàn, công sức bao năm học…sao mà làm được hả anh? ” tạm biệt Vân ra về chúng tôi cứ ám ảnh mãi câu hỏi của em…

Tương tự là trường hợp của Dũng(*) : tốt nghiệp ngành xây dựng của một trường đại học có tiếng nhưng Dũng phải ngậm ngùi “thực tập không lương” lấy kinh nghiệm vì BĐS đóng băng, công ty nợ ngập đầu không còn khả năng trả lương cho nhân viên. Dũng đang tính chuyện nghỉ việc vì không cầm cự được bao lâu nữa.

Bi đát hơn là Hiền(*) cô sinh ra trong một gia đình nghèo ở miền Trung, những tưởng sau khi tốt nghiệp ĐH Ngân Hàng sẽ tìm được một công việc như ý nhưng mãi vẫn chưa xin được việc, hơn năm nay Hiền học thêm nghề làm tóc để trang trải cuộc sống qua ngày và phần nào phụ giúp gia đình… “em còn khoản nợ vay ngân hàng trong 4 năm ĐH không biết khi nào mới trả xong” Hiền bộc bạch.

Nguyên nhân do đâu ?
Cung vượt quá cầu: khủng hoảng kinh tế Thế Giới kéo theo khủng hoảng tài chính do ”bong bóng” BĐS vỡ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng suy kiệt. Doanh nghiệp không đầu tư sản xuất mà làm giàu bằng giá trị ảo lâm vào khủng hoảng, phá sản. Ngân Hàng tái cơ cấu, người dân thắt chặt chi tiêu, hoàng loạt việc làm bị cắt giảm ảnh hưởng lớn đến tầng lớp lao động trẻ chưa có kinh nghiệm.

Chất lượng giáo dục: có một thực tế đáng buồn là chất lượng giáo dục trong những năm gần đây thấp đến mức báo động, “giữa nhà trường và thế giới việc làm bên ngoài đang có một khoảng cách quá lớn”… Nhà trường giảng dạy theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa quá chú trọng lý thiết, không trang bị cho sinh viên đủ các kiến thức thực sự cần thiết trong quá trình học tập.

Sinh viên thiếu năng lực, kỹ năng mềm: “có thể nói 90% sinh viên khi ra trường đều thiếu kỹ năng mềm, bằng cấp là quan trong nhưng năng lực thật sự và kinh nghiệm của các bạn mới là yếu tố quyết định”Anh Trần Trọng Thành, chủ tịch HĐQT công ty VINAPO nhấn mạnh điều này trong buổi trao đổi với sinh viên trong tại cuộc tọa đàm “Tự tin nghề marketing”.

Thay lời kết:
Lãng phí nguồn tri thức trẻ đang là mối lo của toàn xã hội, Đảng và nhà nước đã và đang đề ra nhiều giải pháp góp phần làm giảm tình trang thất nghiệp như: “cứu” doanh nghiệp - tạo thêm nhiều việc làm, cải cách giáo dục. Song các bạn sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường hãy tự trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng cần thiết tạo nền tảng vững chắc cho tương lai . Hãy bắt đầu ước mơ của mình từ những bật thang thấp nhất. Thành công chỉ đến với những ai có đủ kiên nhẫn và tài trí chinh phục nó.

Có nhiều doanh nghiệp “né” lao động nữ có thai

Những công ty sản xuất, đặc biệt là công ty may mặc số lao động nữ làm việc tại đây chiếm đa số. Trong quy trình tuyển dụng, sau khi phỏng vấn, lao động nữ được khám sức khỏe ngay tại phòng y tế của công ty. Lao động nữ sẽ được phát que thử thai để nhân viên y tế kiểm tra. Ngay cả khi được nhận vào thử việc, nếu bị phát hiện là có thai, nhân viên đó sẽ không được ký hợp đồng chính thức. Chị Hương – nhân viên phòng nhân sự cho biết: “Mục đích của việc thử thai trước hết là đảm bảo an toàn cho chính người lao động. Vì công việc ở đây rất áp lực và thường phải di chuyển nhiều, có thể ảnh hưởng không tốt cho những phụ nữ mang thai.”

Có thai, lao động nữ tìm việc để hưởng bảo hiểm
Theo quy định của bộ luật lao động sửa đổi, lao động nữ mang thai sẽ được hưởng thời gian lao động ít hơn, thời gian nghỉ thai sản cũng được tăng thành 6 tháng. Hiểu được những quy định này, nhiều phụ nữ mang thai đã cố gắng tìm việc bằng mọi cách để có thêm khoản tiền lo liệu cho thời gian ở cữ. Đa phần những lao động nữ này đều có hoàn cảnh kinh tế khá khó khăn. Công việc mà họ thường là những vị trí cần lao động phổ thông như công nhân, tạp vụ... Vì những công việc này không đòi hỏi quá nhiều kỹ năng, và khâu xét tuyển cũng khá dễ dàng.

Chị Hoàng, hiện đang là công nhân trong một nhà máy ở Đồng Nai. Vừa lập gia đình được một thời gian ngắn thì có thai. Chồng chị làm thầu xây dựng, thu nhập không ổn định nên chị buộc phải tìm việc làm khi cái thai được gần 2 tháng. Chị cho biết: Đi làm trong thời gian này, mình cũng lo lắm. Vì sức khỏe mình không được tốt. Hơn nữa, mình vẫn đang theo học lớp trung cấp kế toán vào buổi tối nên vất vả lắm. Nhưng vẫn phải ráng xin cho được việc để nghỉ sinh còn có thêm khoản tiền bảo hiểm chứ chỉ mỗi chồng mình đi làm thì không lo nổi.”

Trước khi đi làm, chị phải nhờ bạn bè, người thân tìm những công ty nào tuyển dụng không khắt khe, không tăng ca, công việc vừa sức để nộp hồ sơ. Sau vài lần đi phỏng vấn, chị mới được nhận vào làm công nhân đóng gói trong một công ty may mặc. Chị chia sẻ: “Lương ở đây thấp lắm, chỉ hơn 2 triệu thôi nhưng công việc nhẹ nhàng. Dù sao thì lúc sinh cũng được nhận 6 tháng lương cơ bản cộng với hai tháng lương cơ bản vùng nữa cũng là hơn 15 triệu rồi.”

Chung hoàn cảnh với chị Ly, chị Hà cũng đi làm khi mang thai được gần 2 tháng. Chị tâm sự: “Mình không dám nói cho bất kỳ ai trong công ty biết là mình có thai. Nhiều khi phải làm những việc nặng như khiêng giỏ hàng, đẩy xe cũng sợ lắm. Nhưng mình phải ráng thôi. Chưa được ký hợp đồng chính thức mà họ biết mình có thai là họ đuổi ngay.”

Doanh nghiệp tìm nhiều cách né lao động nữ có thai
Theo quy định, lao động nữ mang thai và sinh con sẽ được hưởng chế độ thai sản nếu có tham gia bảo hiểm xã hội đủ sáu tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh.

Mặc dù cơ quan BHXH mới là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm chi trả và giải quyết các chế độ khác cho lao động nữ nghỉ thai sản, nhưng việc nhận lao động nữ có thai đã có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như phải giảm giờ làm thực tế cho lao động nữ có thai ở các khu công nghiệp, khu chế xuất; giải quyết chế độ thăm khám thai định kì và tìm người thay thế trong thời gian lao động đó nghỉ thai sản. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đang tự sàng lọc những lao động nữ có thai trước khi ký hợp đồng chính thức.

Những công ty sản xuất, đặc biệt là công ty may mặc số lao động nữ làm việc tại đây chiếm đa số. Trong quy trình tuyển dụng, sau khi phỏng vấn, lao động nữ được khám sức khỏe ngay tại phòng y tế của công ty. Lao động nữ sẽ được phát que thử thai để nhân viên y tế kiểm tra. Ngay cả khi được nhận vào thử việc, nếu bị phát hiện là có thai, nhân viên đó sẽ không được ký hợp đồng chính thức. Chị Hương – nhân viên phòng nhân sự cho biết: “Mục đích của việc thử thai trước hết là đảm bảo an toàn cho chính người lao động. Vì công việc ở đây rất áp lực và thường phải di chuyển nhiều, có thể ảnh hưởng không tốt cho những phụ nữ mang thai.”

Luật lao động không quy định cụ thể việc có tuyển dụng lao động nữ có thai hay không. Điều này hoàn toàn do các doanh nghiệp tự quy định. Nhưng nếu lao động nữ có thai mà đủ sức khỏe làm việc thì các doanh nghiệp nên tạo điều kiện cho họ làm việc. Điều này không chỉ giúp san sẻ bớt khó khăn của những lao động nghèo mà còn góp phần tạo chuyển biến tích cực cho an sinh xã hội.

Những quy định mới của Bảo hiểm thất nghiệp

Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của cơ quan lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả tiền trợ cấp thất nghiệp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần cho NLĐ. Trường hợp, cơ quan Bảo hiểm xã hội không thực hiện việc chi trả theo đúng thời hạn quy định hoặc từ chối yêu cầu chi trả các chế độ BHTN không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan Bảo hiểm xã hội phải có văn bản thông báo cho cơ quan lao động và NLĐ biết đồng thời nêu rõ lý do.

Ngày 21/11/ 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/ 12/ 2008 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm Xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2013 với một số nội dung mới về BHTN mà người lao động (NLĐ) cần biết để bảo vệ quyền lợi cho mình và thuận lợi hơn khi đăng ký BHTN.

1. Kéo dài thời gian đăng ký BHTN
Theo quy định mới của chính phủ, thời gian đăng ký BHTN được tăng lên 3 tháng thay vì 7 ngày theo quy định cũ. Thời gian để tiến hành đăng ký BHTN được tính từ ngày NLĐ bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, nếu chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp thì NLĐ thực hiện đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động.

Quy định mới về BHTN này tạo tâm lý yên tâm để NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm, thay vì phải nhanh chóng đăng ký thất nghiệp, đồng thời NLĐ cũng có thêm thời gian để cân nhắc có nên hưởng trợ cấp thất nghiệp hay bảo lưu thời gian tham gia BHTN.

Khi đăng ký thất nghiệp, NLĐ có trách nhiệm ghi rõ nhu cầu tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề trong bản Đăng ký thất nghiệp. Trung tâm Giới thiệu việc làm tổ chức thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho NLĐ ngay khi người lao động đến đăng ký thất nghiệp. Kinh phí cho hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo hướng dẫn của Bộ tài chính. Cũng theo quy định, hằng tháng, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp đến thông báo với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm.

Những trường hợp sau 2 ngày kể từ ngày ghi trong phiếu trả kết quả mà người lao động không tới nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hỗ trợ học nghề thì coi như không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hỗ trợ học nghề. Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định người lao động đã nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng chưa nhận tiền trợ cấp thất nghiệp mà không có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp, muốn để cộng dồn thời gian tham gia BHTN theo quy định thì làm đơn đề nghị không hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu số 24 ban hành kèm theo thông tư này.

2. Điều kiện hưởng BHTN
Quy định mới về BHTN cơ bản vẫn giữ nguyên những điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp như: NLĐ đã tham gia đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định. Nhưng để cả người sử dụng lao động và NLĐ hiểu rõ hơn về điều kiện hưởng BHTN, quy định mới đã có những hướng dẫn cụ thể hơn về tháng đóng BHTN. Cụ thể:

Tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ được tính nếu người sử dụng lao động và NLĐ đã đóng BHTN, NLĐ đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc ít nhất 1 ngày trong tháng đó.

3. Về giải quyết hưởng BHTN
Theo Nghị định 127/2008/NĐ-CP, sau khi người lao động nộp hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định, cơ quan lao động có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Tại Nghị định mới, việc giải quyết hưởng BHTN cũng được thực hiện trong vòng 20 ngày, nhưng quy định cụ thể hơn về trình tự giả quyết hưởng BHTN: Trong thời hạn 15 ngày (tính theo ngày làm việc) kể từ ngày đăng ký thất nghiệp, NLĐ phải trực tiếp nộp hồ sơ hưởng BHTN cho cơ quan lao động nơi đã đăng ký thất nghiệp hoặc cơ quan lao động nơi chuyển đến để hưởng BHTN.

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan lao động có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét và giải quyết hưởng các chế độ BHTN; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị hỗ trợ học nghề của người thất nghiệp, cơ quan lao động có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của cơ quan lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả tiền trợ cấp thất nghiệp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần cho NLĐ. Trường hợp, cơ quan Bảo hiểm xã hội không thực hiện việc chi trả theo đúng thời hạn quy định hoặc từ chối yêu cầu chi trả các chế độ BHTN không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan Bảo hiểm xã hội phải có văn bản thông báo cho cơ quan lao động và NLĐ biết đồng thời nêu rõ lý do.

BHTN là một trong những chính sách an sinh xã hội, thực hiện chức năng hỗ trợ phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm. Vì vậy, việc đóng BHTN vừa là nghĩa vụ và cũng là quyền lợi của NLĐ. So với quy định cũ, quy định mới về BHTN đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NLĐ khi làm thủ tục đăng ký thất nghiệp. Đồng thời, những quy định mới về BHTN cũng làm rõ hơn các điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp và thời gian NLĐ đăng ký trợ cấp, thời gian cơ quan lao động thực hiện giải quyết hồ sơ đăng ký trợ cấp cho NLĐ.

Thị trường lao động đầu năm 2013 có ít biến động

Ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường Lao động TP Hồ Chí Minh cho biết: Do tình hình kinh tế khó khăn, một số DN giải thể hoặc vẫn trong tình trạng tạm ngưng hoạt đông, khiến nhiều lao động mất việc hoặc khó kiếm việc làm. Chính vì vậy, NLĐ có tâm lý “giữ chỗ” khác hẳn với mọi năm là tìm công việc mới với mức thu nhập cao hơn. Cũng theo Trung tâm, trong tháng 3, thị trường TP.Hồ Chí Minh cần khoảng 30.000 lao động, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành: Công nghệ thông tin, kế toán – kiểm toán, nhân viên kinh doanh – bán hàng, kiến trúc – kỹ sư xây dựng, giày da, dệt may, hành chính văn phòng.Trong đó nhóm ngành sử dụng lao động trung cấp, sơ cấp nghề, lao động phổ thông như ngành dệt may, chế biến lương thực – thực phẩm… vẫn lâm vào tình trạng thiếu hụt lao động.

Năm 2012 là một năm vô cùng khó khăn đối với các khu công nghiệp – khu chế xuất (KCN – KCX) trong cả nước nói chung và tại TP.Hồ Chí Minh nói riêng. Không chỉ người lao động (NLĐ) bị trả lương thấp, luôn sống trong tâm lý lo thất nghiệp mà các doanh nghiệp (DN) cũng vô cùng lao đao do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Và nỗi lo ấy vẫn đeo bám NLĐ, DN sang năm 2013. Việc tuyển lao động ồ ạt, lao động nhảy việc sau nghỉ tết không còn diễn ra nhiều như những năm trước nữa.

Không còn tuyển lao động ồ ạt
Nếu như mọi năm, cứ qua dịp tết Nguyên đán cũng là lúc các DN treo băng rôn tuyển lao động với mức lương và chế độ hấp dẫn thì năm nay số lượng băng rôn đã giảm rất nhiều. Hơn nữa, dù gặp khó khăn về vấn đề tài chính nhưng các DN đã chú trọng vào công tác chăm lo cho NLĐ dịp trước tết như: Thanh toán lương đầy đủ, thưởng tết, quà cho công nhân, tổ chức xe đưa rước công nhân về quê ăn tết… rất tốt. Điều này đã khiến cho NLĐ rất hài lòng và muốn gắn bó với DN lâu dài thay vì tìm một công việc mới

Tính đến ngày 19/2, qua khảo sát nhanh của công đoàn các KCN – KCX tp.Hồ Chí Minh, công nhân trở lại DN làm việc sau kỳ nghỉ tết đạt tỷ lệ rất cao, bình quân đạt 95%, đặc biệt một số DN đạt tới 98% lao động trở lại làm việc đúng thời gian quy định. Việc NLĐ trở lại làm việc sau kỳ nghỉ tết đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động trong quý I năm 2013. Bên cạnh đó, các DN cũng không mất nhiều thời gian, công sức và tiền của cho công tác tuyển dụng. Đồng thời, NLĐ trở lại làm việc đúng thời gian và đầy đủ cho thấy tình hình thị trường lao động nước ta đã có nhiều thay đổi tích cực. Một trong những thay đổi đáng ghi nghận là việc các DN đã có chính sách quan tâm, chăm sóc đến NLĐ nhiều hơn. Điều này đã giúp cũng cố niềm tin của NLĐ vào DN, tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho DN mà cả NLĐ cũng yên tâm làm việc.

Theo ông Trần Xuân Hải, Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM cho biết: Nhu cầu tuyển dụng lao động trong những tháng đầu năm 2013 đang “chìm” hẳn. Trong đó, lao động phổ thông chỉ cần vài trăm (các năm trước là hàng ngàn) chủ yếu để thay thế lao động nghỉ việc. Bên cạnh đó, phần lớn nhu cầu tuyển dụng đầu năm 2013 chủ yếu tập trung vào lao động đã có tay nghề, kinh nghiệm hoặc yêu cầu NLĐ phải làm được nhiều việc khác nhau trong DN. Chính vì vậy, người tìm việc không có nhiều cơ hội lựa chọn nên họ cố gắng bám việc, thay vì nhảy việc tìm chỗ làm có lương, ưu đãi cạnh tranh hơn. Lao động có trình độ CĐ-ĐH nhu cầu tuyển dụng lại càng nhỏ giọt hơn, chủ yếu là công ty mới thành lập, các dự án mới triển khai. Vì thế ổn định nơi làm việc và mức lương là tâm lý chủ yếu của NLĐ trong giai đoạn hiện nay.

Như vậy có thể thấy rằng nhu cầu tuyển dụng lao động của các DN trong đầu năm 2013 rất hạn chế. Các DN không bị rơi vào tình trạng khát nhân lực do lao động nghỉ việc, nhảy việc như những năm trước. Hơn nữa, hiện nay các DN cũng đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nguồn nhân lực hơn là số lượng. Do vậy, việc tuyển lao động ồ ạt không cần kinh nghiệm để bổ sung lao động bị thiếu đã phần nào được hạn chế tại các KCN – KCX. Điều này vừa giúp DN tiết kiệm được một khoản chi phí lớn, đồng thời NLĐ cũng yên tâm làm việc không lo bị sa thải trong giai đoạn kinh tế khó khăn như hiện nay.

Người lao động ít nhảy việc
Mặc dù các DN đã làm rất tốt việc giữ chân NLĐ sau dịp tết, tuy nhiên tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn, nhiều DN bị sụt giảm đơn hàng, thu hẹp phạm vi sản xuất phải cắt giảm bớt lao động để vượt qua giai đoạn khủng hoảng. Chính vì lý do này nên cơ hội “nhảy việc” của NLĐ sẽ không có nhiều.

Trước tình hình kinh tế khó khăn, lao động thất nghiệp nhiều, nên rất ít người dám nhảy việc khi chưa chắc chắn có công việc khác. Bởi tâm lý chung của NLĐ hiện nay là giữ việc mặc dù lương thấp. Theo các Hiệp hội ngành nghề, thị trường lao động đầu năm 2013 ít biến động hơn trước đó. Trong đó ngành giày da là một trong những ngành luôn có lượng lao động biến động rất lớn sau tết, nhưng năm nay chỉ còn khoảng 10% công nhân “nhảy việc” sau tết. Trong khi đó, năm 2012 tỷ lệ dịch chuyển lao động trên 20%, năm 2011 trên 30%.

Ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường Lao động TP Hồ Chí Minh cho biết: Do tình hình kinh tế khó khăn, một số DN giải thể hoặc vẫn trong tình trạng tạm ngưng hoạt đông, khiến nhiều lao động mất việc hoặc khó kiếm việc làm. Chính vì vậy, NLĐ có tâm lý “giữ chỗ” khác hẳn với mọi năm là tìm công việc mới với mức thu nhập cao hơn. Cũng theo Trung tâm, trong tháng 3, thị trường TP.Hồ Chí Minh cần khoảng 30.000 lao động, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành: Công nghệ thông tin, kế toán – kiểm toán, nhân viên kinh doanh – bán hàng, kiến trúc – kỹ sư xây dựng, giày da, dệt may, hành chính văn phòng.Trong đó nhóm ngành sử dụng lao động trung cấp, sơ cấp nghề, lao động phổ thông như ngành dệt may, chế biến lương thực – thực phẩm… vẫn lâm vào tình trạng thiếu hụt lao động.

Nếu mọi năm vào thời gian trước và sau tết DN rất khó khăn trong việc tuyển lao động, kể cả lao động thời vụ do thị trường lao động khan hiến thì năm nay mọi mọi thứ đều bị đảo ngược lại. DN không còn vất vả tìm kiếm lao động, thay vào đó NLĐ sẽ phải đỏ mắt để có được việc làm chứ đừng nói gì tới việc lựa chọn một công việc như ý. Chính vì lý do này, từ đầu năm 2013 NLĐ không có xu hướng nhảy việc như mọi năm. Bởi nhảy việc trong lúc này là điều vô cùng mạo hiểm, sẽ không dễ dàng để NLĐ tìm được một công việc mới trong tình hình kinh tế khó khăn, DN thu hẹp sản xuất, hạn chế tuyển dụng lao động, nhất là với những lao động không có tay nghề.

Mất việc - người lao động trông chờ vào bảo hiểm thất nghiệp

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm, Nhà nước hiện có chế tài quy định trong Nghị định 86/2010/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong BHXH và BHTN, nhưng mức xử phạt còn thấp. Theo đó, nếu doanh nghiệp chậm hoặc trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, thì ngoài việc phải truy đóng đầy đủ, doanh nghiệp còn phải chịu lãi phạt chậm đóng và có thể bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đóng BHXH, mức lãi chậm đóng bằng mức tăng trưởng của quỹ BHXH khi đưa vào đầu tư. Mà mức tăng này Chính phủ quy định BHXH cho Ngân sách Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước vay, với lãi suất thấp (khoảng10%/năm), trong khi lãi suất bên ngoài gần 20%/năm. Do đó, doanh nghiệp "thích nợ" BHXH hơn là đóng đúng hạn. Hơn nữa, nếu doanh nghiệp chậm đóng, thì theo xử phạt vi phạm hành chính tối đa chỉ 30 triệu đồng. Vì vậy, có tình trạng doanh nghiệp xin được nộp phạt để tiếp tục... nợ BHXH.

Doanh nghiệp phá sản, ngưng hoạt động, cắt giảm nhân lực… đã đẩy người lao động rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn, không việc làm. Trước tình hình đó, trong thời gian chờ tìm công việc mới, người lao động chỉ còn cách trông chờ vào bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

Chỉ còn cách bấu víu BHTN
Để có nguồn thu nhập trang trải cho cuộc sống trong thời gian thất nghiệp, hàng ngàn người lao động đã tìm đến các trung tâm hỗ trợ đang ký BHTN nộp hồ sơ, đăng ký nhận trợ cấp. Với hy vọng rằng với khoản trợ cấp đó có thể phần nào giúp họ trang trải cho cuộc sống hàng ngày trong cơn bĩ cực.

Theo ông Nguyễn Cao Thắng, Phó giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm TP.Hồ Chí Minh, trong mấy tháng đầu năm, mỗi ngày cả thành phố tiếp nhận 700-800 lượt đăng ký, nhưng hiện tại con số này đã tăng lên rất nhiều. Trong khi năm 2011 chỉ khoảng 400-500 người. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp khó khăn phải giải thể, ngừng hoạt động, đóng cửa khiến nhiều lao động mất việc. Ngoài ra, không chỉ lao động phổ thông mà những người có chuyên môn, thu nhập cao cũng tìm đến trợ cấp thất nghiệp nhiều hơn.

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP HCM, nhu cầu lao động phổ thông ở nhiều ngành như: dệt, may, da giày hiện không còn gay gắt như cùng kỳ. Điều này cho thấy các doanh nghiệp tính toán chặt chẽ sử dụng lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh trong tình hình kinh tế vẫn tồn tại nhiều khó khăn. Do đó, nhiều doanh nghiệp không dám mở rộng quy mô. Mặt khác, một số đơn vị đã thu hẹp hoạt động và tinh lọc bộ máy nhân lực, khiến tình trạng thất nghiệp gia tăng.

Mất việc làm trong khi giá cả thị trường lại liên tục tăng, khiến cho không ít người lao động phải sống vô cùng chật vật. Họ phải làm tất cả các công việc có thể kiếm ra tiền như: buôn bán, xe ôm, phụ hồ, giúp việc nhà… Nhiều người không tìm được việc làm thêm chỉ còn cách nóng lòng trông chờ vào khoản trợ cấp thất nghiệp ít ỏi hàng tháng.

Chị Nguyễn thị Chi, công nhân làm tại khu công nghiệp Sóng Thần (Dĩ An, Bình Dương) đang chờ đến lượt đăng lý BHTN tại trung tâm giới thiệu Việc làm Bình Dương, cho biết: “Hơn một tháng nay không có việc làm, hai vợ chồng phải sống chật vật với số tiền để dành được trong thời gian còn đi làm. Đã vậy, vẫn phải gửi tiền về quê lo cho con ăn học. Giờ chỉ còn biết trông chờ vào trợ cấp xã hội chờ tìm được công việc mới, nếu không chắc phải về quê”.

Thất nghiệp gia tăng, khiến cho các trung tâm tiếp nhận đăng ký BHTN cũng gặp nhiều khó khăn vì số lượng người đến trung tâm mỗi ngày quá lớn. Dẫn đến tình trạng ùn ứa, chen lấn, xô đẩy nhau, gây khó khăn rất nhiều cho trung tâm trong việc giải quyết hồ sơ cho người lao động.

Quá tải đăng ký BHTN
Việc đăng ký BHTN đã phần nào giải quyết được những khó khăn trước mắt cho người lao động không có việc làm trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay. Tuy nhiên, do đứng trước làn sóng phá sản, thu hẹp kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp đã đưa hàng ngàn người lao động rơi vào tình cảnh thất nghiệp. Đây là nguyên nhân người lao động ùn ùn kéo nhau đến các trung tâm đăng ký BHTN gây nên tình trạng quá tải tại các trung tâm.

Theo số liệu vừa được công bố của tổng cục thống kê cho thấy trong 9 tháng đầu năm, Việt Nam có tổng cộng 984 nghìn người thất nghiệp và gần 1,37 triệu người thiếu việc làm. Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường TP.Hồ Chí Minh cho biết: Trong năm 2012, lao động tại thành phố tỷ lệ thất nghiệp gia tăng là do tình hình kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, ngừng hoạt động, giải thể đã kéo theo sự biến động của thị trường lao động của thành phố.

Không chỉ tình trạng thất nghiệp liên tục gia tăng, mà vấn đề việc làm trong những tháng cuối năm cũng gây không ít khó khăn cho người lao động. Ông Nguyễn Cao Thắng, Phó Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm TPHCM - đơn vị tiếp nhận và xử lý hồ sơ BHTN tại TPHCM cho biết: 10 tháng đầu năm 2012 trên địa bàn có trên 120.000 người lao động đăng ký thất nghiệp, bình quân mỗi tháng trên địa bàn có khoảng 11.000 người thất nghiệp, tăng gần 35% so với cùng kỳ năm 2011 và cao hơn số lượng người thất nghiệp của cả năm 2011. Tổng số tiền đã chi trả khoảng 900 tỷ đồng.

Tìm đến các trung tân tiếp nhận hồ sơ đăng ký BHTN là cách duy nhất giúp những người mất việc làm có thể bám trụ lại với thành thị. Đặc biệt là với lao động ngoại tỉnh, họ không muốn trở về quê sau khi thất nghiệp. Vì vậy họ chấp nhận làm đủ các công việc khác nhau để có thu nhập. Và dĩ nhiên, khoản thu nhập mà họ nghĩ đến đầu tiên là BHTN. Khoản thu nhập này giống như cái phao giúp người lao động có thể tiếp tục bám trụ được với cuộc sống trước mắt.

Việc quá tải người đăng ký BHTN là điều không khó lý giải, bởi sau khi mất việc, người lao động chỉ còn có thể trông chờ vào các khoản trợ cấp xã hội để vượt qua thời điểm khó khăn. Nhưng không phải ai cũng nhận được khoản trợ cấp này, mặc dù mỗi tháng họ vẫn tham gia đóng BH đầy đủ tại nơi làm việc. Nhiều người đã phải ngỡ ngàng, rồi thất vọng khi biết rằng không đủ điều kiện nhận BHTN.

Ngỡ ngàng vì không được nhận BHTN
Mất việc, BHTN là nguồn thu nhập chính của người lao động trong thời gian chờ tìm công việc mới. Thế nhưng, hy vọng của nhiều người bị dập tắt khi biết rằng không được nhận BHTN vì doanh nghiệp nợ BHXH, trong khi hàng tháng các cơ quan, doanh nghiệp vẫn trừ tiền BHXH của công nhân mình.

Chuyện nợ BHXH của các doanh nghiệp không phải là chuyện mới mà tình trạng này đang có xu hướng tăng lên. Theo BHXH Việt Nam, tính đến hết tháng 10-2012, số tiền nợ BHXH, BHYT của các cơ quan, đơn vị, DN lên đến gần 8.500 tỉ đồng (trong đó nợ BHXH hơn 6.500 tỉ đồng), tăng hơn 2.000 tỉ đồng (31,8%) so với cùng kỳ năm 2011.

Trước tình trạng nợ BHXH gia tăng, quý III/2012, có 32 BHXH địa phương tiến hành khởi kiện 690 đơn vị nợ đọng BHXH, BHYT ra tòa, tăng 69% so với quý II/2012. BHXH TPHCM cũng cho biết DN trên địa bàn đang nợ BHXH lên đến 1.600 tỉ đồng, chiếm khoảng 8% số thu phải đóng hằng năm. Vì vậy, BHXH TPHCM đang chuẩn bị và hoàn tất hồ sơ để khởi kiện khoảng 200 DN còn nợ BHXH. Chính vì vậy, những lao động không may mất việc, xin nghỉ việc trong thời gian doanh nghiệp nợ bảo hiểm sẽ phải chịu rất nhiều thiệt thòi.

Anh Nguyễn Văn Bình, đang chờ làm thủ tục đăng ký BHTN tại trung tâm giới thiệu việc làm tại Q, Bình Thạnh bức xúc nói: “ Tôi đến đăng ký BHTN thì được biết không đủ điều kiện làm thủ tục vì công ty đã nợ BHXH ba tháng nay rồi. Tôi đã mất việc gần hai tháng vì công ty cần sa thải bớt nhân lực. Tôi đã cố tìm công việc khác nhưng chưa được nên mới tìm tới đây đăng ký BHTN hy vọng có thể trang trải được cho cuộc sống trong thời gian chờ tìm việc mới. Vậy mà.” Không chỉ riêng anh Bình gặp phải tình cảnh như vậy, mà rất nhiều người sau khi ngồi chờ cả ngày trời, cuối cùng nhận được câu trả lời không đủ điều kiện nhận BHTN. Nhiều người đã bật khóc nức nở ngay tại trung tâm mà không biết kêu ai.

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm, Nhà nước hiện có chế tài quy định trong Nghị định 86/2010/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong BHXH và BHTN, nhưng mức xử phạt còn thấp. Theo đó, nếu doanh nghiệp chậm hoặc trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, thì ngoài việc phải truy đóng đầy đủ, doanh nghiệp còn phải chịu lãi phạt chậm đóng và có thể bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đóng BHXH, mức lãi chậm đóng bằng mức tăng trưởng của quỹ BHXH khi đưa vào đầu tư. Mà mức tăng này Chính phủ quy định BHXH cho Ngân sách Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước vay, với lãi suất thấp (khoảng10%/năm), trong khi lãi suất bên ngoài gần 20%/năm. Do đó, doanh nghiệp "thích nợ" BHXH hơn là đóng đúng hạn. Hơn nữa, nếu doanh nghiệp chậm đóng, thì theo xử phạt vi phạm hành chính tối đa chỉ 30 triệu đồng. Vì vậy, có tình trạng doanh nghiệp xin được nộp phạt để tiếp tục... nợ BHXH.

Người lao động khi ký hợp đồng với các doanh nghiệp đều được hứa đóng đầy đủ các loại BH, được hưởng đầy đủ các quyền lợi. Tuy nhiên, nhiều người khi không còn bấu víu được vào đâu khi tìm đến các khoản trợ cấp thì ngỡ ngàng vì doanh nghiệp đã không thực hiện đúng như trong hợp đồng đã ký kết. Điều này cũng chỉ làm người lao động mất quyền lợi mà chuyện người lao động mất lòng tin vào các chính sách của Nhà trước là điều không thể tránh khỏi.