Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

Thị trường lao động cuối năm 2013 tiếp tục trầm lắng

Nguyên nhân cung vượt quá cầu trong những tháng cuối năm 2013 được ông Bùi Thanh Ngọc, Phó Giám đốc Trung tâm GTVL các KCX-KCN TP. Hồ Chí Minh giải thích: “Từ nay đến Tết Nguyên đán, đơn hàng của các DN không tăng mạnh nên họ không có nhu cầu tuyển thêm nhân công. Hơn nữa cho đến thời điểm này các DN hạn chế tuyển dụng là do vẫn còn rất nhiều DN rơi vào tình trạng ứa đọng vốn vì hàng tồn kho nhiều. Do vậy, đến thời điểm này các chủ DN phải lo tìm đầu mối để bán hàng chứ không còn khả năng tuyển dụng lao động mới hay lao động thời vụ để sản xuất hàng hóa như những năm trước. Tình trạng tuyển dụng ồ ạt sẽ không diễn ra như mọi năm. Người lao động sẽ khó tìm được việc làm mới nếu nghỉ việc trong thời điểm này”.


Thị trường tuyển dụng lao động cuối năm 2013 tuy có nhiều khởi sắc, một số doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động tăng cao, tuy nhiên còn rất nhiều ngành nghề vẫn “kén” lao động, tình trạng cung vượt quá cầu tiếp tục diễn ra, nhiều lao động vẫn không có việc làm hoặc phải chấp nhận làm nghề tay trái để có thu nhập.

Nhìn lại thị trường lao động cuối năm 2012
Năm 2012 là một năm “mất mùa” của thi trường lao động. Trong năm cả nước có tới gần 50.000 DN giải thể, ngừng sản xuất kinh doanh, làm cho gần 41.000 lao động ở 60 tỉnh, thành mất việc làm, đời sống người lao động vô cùng khó khăn.

Càng về cuối năm thị trường việc làm càng đìu hiu, gần như đóng băng bởi đơn đặt hàng giảm rõ rệt, tình trạng thất nghiệp gia tăng chóng mặt. Đứng trước nguy cơ có thể mất việc bất kỳ lúc nào, rất nhiều lao động đã bỏ DN chọn giải pháp khác để đối phó với khó khăn như: Bán hàng rong, phụ hồ, chạy xe ôm… Những ai không may mắn tìm được việc làm khác thì đành khăn gói về quê.

Đối với những DN không rơi vào tình trạng ngưng hoạt động thì phải tìm mọi cách tinh giảm nhân sự, đổi mới phương pháp tuyển dụng nhằm sàng lọc, tìm lao động có tay nghề tốt nhất.

Như vậy có thể thấy thị trường lao động cuối năm 2012 vô cùng ảm đạm, Hàng loạt DN phá sản, ngưng hoạt động, lao động thất nghiệp tràn lan, người lao động phải đỏ mắt tìm việc chứ không phải được mời gọi như những năm trước.

Cuối năm 2013, thị trường lao động vẫn trầm lắng
Trong những tháng cuối năm 2013, thị trường lao động có xu hướng ổn định, một số doanh nghiệp có nhu cầu tuyển mới nhưng không nhiều, chủ yếu là bù vào số lao động nghỉ việc hoặc thay thế một số lao động nữ nghỉ thai sản.

Ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM cho biết: Thị trường lao động quí IV sẽ ở mức 60.000 lao động bao gồm lao động thay thế và tuyển mới của các DN. Trong đó tại các KCX – KCN thành phố có nhu cầu tuyển dụng 10.000 chỗ làm việc, tập trung ở các nhóm ngành như: dệt may – da giày, cơ khí, công nghệ thực phẩm, nhựa – bao bì, điện tử…

Việc lao động ở các nhóm ngành tăng là dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên các DN vẫn rất “kén” trong khâu tuyển dụng. Điều này chứng tỏ rằng tình trạng cung vượt quá cầu trong những tháng cuối năm 2013 vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là các nhóm ngành như: Kế toán; Quản lý điều hành; Nhân sự; Hành chính văn phòng; Kiến trúc - Kỹ thuật công trình xây dựng… nhu cầu tuyển dụng rất ít và khắt khe, vì vậy lao động thuộc các nhóm ngành này vẫn lao đao tìm việc hoặc chấp nhận làm trái ngành.

Nguyên nhân cung vượt quá cầu trong những tháng cuối năm 2013 được ông Bùi Thanh Ngọc, Phó Giám đốc Trung tâm GTVL các KCX-KCN TP. Hồ Chí Minh giải thích: “Từ nay đến Tết Nguyên đán, đơn hàng của các DN không tăng mạnh nên họ không có nhu cầu tuyển thêm nhân công. Hơn nữa cho đến thời điểm này các DN hạn chế tuyển dụng là do vẫn còn rất nhiều DN rơi vào tình trạng ứa đọng vốn vì hàng tồn kho nhiều. Do vậy, đến thời điểm này các chủ DN phải lo tìm đầu mối để bán hàng chứ không còn khả năng tuyển dụng lao động mới hay lao động thời vụ để sản xuất hàng hóa như những năm trước. Tình trạng tuyển dụng ồ ạt sẽ không diễn ra như mọi năm. Người lao động sẽ khó tìm được việc làm mới nếu nghỉ việc trong thời điểm này”.

Như vậy, trong những tháng cuối năm 2013 thị trường lao động có xu hướng phát triển ổn định hơn. Tuy nhiên, tình trạng thay đổi chỗ làm việc của lao động không diễn ra ồ ạt như cùng kỳ những năm vừa qua (chỉ ở mức dao động dưới 15%, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2012 và giảm 15% so với cùng kỳ 2011). Yêu cầu tuyển dụng nhân sự cũng đòi hỏi cao hơn, chủ yếu là những lao động lành nghề, có chuyên môn kỹ thuật, bằng cấp sẽ được ưu tiên.

Đề xuất tăng lương tối thiểu là 15 -17% năm 2014


Bàn về vấn đề này, ông Đặng Như Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Xã hội của Quốc hội cho biết: “Nhà nước không nên quy định mức lương tối thiểu cho doanh nghiệp. Vì dù có đưa ra một mức cố định, doanh nghiệp cũng sẽ tìm mọi biện pháp để “lách”. Có thể doanh nghiệp chỉ trả lương cho lao động cao hơn một chút so với quy định hoặc tăng lương nhưng lại cắt giảm các khoản phúc lợi khác. Do đó, nói là tăng lương, nhưng thực chất đời sống NLĐ không thay đổi”.
Bộ Lao động và Thương binh Xã hội đã trình Chính phủ phương án tăng lương tối thiểu vùng 2014 áp dụng cho khối doanh nghiệp là 17%/tháng, thấp hơn nhiều so với mức đề xuất của Tổng đoàn Lao động Việt Nam. Dự kiến nếu đề xuất được phê chuẩn, mức lương này sẽ bắt đầu áp dụng từ ngày 1/1/2014

Lương tối thiểu 2014 chỉ tăng tương đương 2013
Kết quả khảo sát mức sống tối thiểu của người lao động (NLĐ) trong các doanh nghiệp năm 2013 của Viện Công nhân - Công đoàn (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) tại 68 doanh nghiệp với gần 2.000 phiếu điều tra cho thấy mức lương tối thiểu hiện nay đang còn thấp, không đủ sống.

Dựa vào kết quả khảo sát này Tổng Đoàn lao động Việt Nam đã đề xuất 2 phương án tăng lương tối thiểu năm 2014. Theo phương án một, mức lương tối thiểu năm 2014 sẽ được điều chỉnh tăng thêm so với năm 2013 từ 400.00-850.000 đồng (khoảng 24-36%) và đáp ứng 77-84% so với nhu cầu mức sống tối thiểu của NLĐ. Theo phương án hai, mức điều chỉnh tiền lương tối thiểu tăng ít hơn, từ 350.000-750.000 đồng (21-32%), đáp ứng khoảng 75-82% nhu cầu sống tối thiểu.

Theo hai phương án trên thì mức lương tối thiểu vùng 1 sẽ tăng từ 2,35 triệu đồng lên 3,2 triệu đồng/tháng. Vùng 2 tăng từ 2,1 triệu đồng lên 2,75 triệu đồng/tháng. Vùng 3 từ 1,8 triệu đồng lên 2,4 triệu đồng/tháng. Vùng 4 tăng từ 1,650 triệu đồng lên 2,05 triệu đồng/tháng.

Tuy nhiên, Bộ Lao động Thương binh Xã hội (LĐ-TB&XH) không chấp nhận đề xuất của Tổng đoàn Lao động Việt Nam vì cho rằng mức tăng như vậy là quá cao, không phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Do vậy Bộ đã trình Chính phủ phương án tăng lương tối thiểu vùng 2014 áp dụng cho khối doanh nghiệp là 17%. Cũng theo Dự thảo Nghị định, quy định mức lương tối thiểu vùng nói trên áp dụng đối với NLĐ làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.
Như vậy, mức lương tối thiểu sẽ chỉ tăng từ 250.000 – 400.000 đồng/tháng. Cụ thể, đối với doanh nghiệp hoạt động tại vùng 1 tăng từ 2,35 triệu đồng/tháng lên 2,75 triệu đồng/tháng; vùng 2 từ 2,1 triệu đồng lên 2,45 triệu; vùng 3 từ 1,8 triệu đồng lên 2,1 triệu; vùng 4 từ 1,65 triệu đồng lên 1,9 triệu đồng/tháng. Qua đó cho thấy mức lương tối thiểu năm 2014 chỉ tăng tương đương như mức tăng của 2013 (16-18% tùy theo vùng).

Trao đổi về vấn đề này, ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, Chủ tịch Hội đồng Tiền lương quốc gia cho biết: “Sau rất nhiều phiên thảo luận, mức tăng trên đã được các thành viên trong hội đồng thông qua. Việc tăng lương như vậy cũng đã được tính toán để hài hòa lợi ích giữa NLĐ và doanh nghiệp”.

Việc đề xuất tăng lương tối thiểu năm 2014 đã được tính toán dựa trên thực trạng đời sống của NLĐ và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tăng lương tối thiếu lại khiến cho doanh nghiệp và NLĐ đều thấp thỏm lo sợ.

Tăng lương - doanh nghiệp và người lao động đều lo
Trong lúc có hàng trăm doanh nghiệp đang gặp khó khăn, đứng trước nguy cơ phá sản thì việc tăng lương giống như một gánh nặng đè lên vai những người quản lý. Không những vậy, nếu mức lương tối thiểu tăng thì đời sống của NLĐ cũng sẽ đứng trước muôn vàn khó khăn khi mà các loại mặt hàng thiết yếu ngày càng tăng giá đến chóng mặt.

Ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ LĐ&TBXH cho biết: “Doanh nghiệp hiện đang gặp nhiều khó khăn, việc tăng lương tối thiểu sẽ tác động lớn đến chi phí của doanh nghiệp, kể cả chi phí lương và bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, việc bảo đảm mức sống tối thiểu của NLĐ cũng không thể không tính đến, nhất là khi giá cả ngày càng tăng. Vì vậy, sau khi lấy ý kiến của nhiều bộ ngành, cơ quan, các hiệp hội ngành nghề…Hội đồng tiền lương đã đề xuất để Bộ LĐ-TB&XH trình chính phủ các mức tăng trên”.

Để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, trước mắt các doanh nghiệp sẽ phải nghĩ ra phương án đối diện với việc tăng lương trong lúc hoạt động doanh nghiệp đang ngập tràn khó khăn, họ sẽ phải bỏ thêm một khoản chi phí khổng lồ để trả cho người lao động từ: Lương, thưởng, các chế độ phúc lợi xã hội khác mà NLĐ được hưởng.

Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Lao động Tiền lương (Bộ LĐ-TB&XH) thừa nhận: “Bộ LĐ-TB&XH chỉ nghiên cứu và đưa ra quy định về mức lương tối thiểu, còn việc tác động của lương tối thiểu đến đời sống lao động và doanh nghiệp thế nào, không phải trách nhiệm của bộ này. Việc tăng lương tối thiểu chắc chắn sẽ tác động đến sản xuất của doanh nghiệp. Để tránh bị ảnh hưởng, tốt nhất là doanh nghiệp nên tiết giảm chi phí sản xuất”.

Doanh nghiệp gặp khó khăn khi tăng lương liệu đời sống và quyền lợi của NLĐ có được đảm bảo hay đó lại là gánh nặng khi mà các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho đời sống như: điện, nước, nhà trọ, xăng, thực phẩm… cũng sẽ nối đuôi nhau tăng theo.

Bàn về vấn đề này, ông Đặng Như Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Xã hội của Quốc hội cho biết: “Nhà nước không nên quy định mức lương tối thiểu cho doanh nghiệp. Vì dù có đưa ra một mức cố định, doanh nghiệp cũng sẽ tìm mọi biện pháp để “lách”. Có thể doanh nghiệp chỉ trả lương cho lao động cao hơn một chút so với quy định hoặc tăng lương nhưng lại cắt giảm các khoản phúc lợi khác. Do đó, nói là tăng lương, nhưng thực chất đời sống NLĐ không thay đổi”.

Qua đó thấy rằng, lương chưa tăng nhưng nỗi lo của doanh nghiệp và NLĐ đã tăng. Việc tăng lương sẽ giúp NLĐ có thể cải thiện đời sống trước mắt, nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của cả doanh nghiệp và NLĐ có được đảm bảo trong tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay.

Chất lượng về nguồn nhân lực: Vấn đề cần quan tâm hiện nay

Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay đang còn rất thấp, trong khi nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề, chất lượng cao của các DN lại liên tục tăng. Điều này dẫn đến nguồn lao động của chúng ta dồi dào, nhu cầu việc làm lớn, nhưng các doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu lao động. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất nghiệp ngày càng gia tăng của nước ta hiện nay.

Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của đất nước và sự sống còn của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa được quan tâm đúng mức và còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế.

Nguồn lao động dồi dào
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2011 dân số việt nam gần đạt ngưỡng 88 triệu người (ước tính khoảng 87,84 triệu người). Với lượng dân số này, hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 13 trên thế giới về dân số và thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á. Về lực lượng lao động , tính đến 1/7/2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số. Trong đó lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 70,3%.

Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Bởi số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế. Trong tổng số 51,4 triệu lao động chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Sự chênh lệch về chất lương nguồn lao động được thể hiện rõ nhất là ở khu vực nông thôn và thành thị. Ở thành thị lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở nông thôn chỉ có 9%. Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế chung của nước. Trong khi đó, lượng lao động từ nông thôn đến thành thị tìm việc là rất lớn.Nhưng mục đích chính của những lao động này lên thành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm, tay nghề.

Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động. Nguyên nhân là do lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và còn khiến cho người lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân.

Doanh nghiệp vẫn khát nhân lực
Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển TP. HCM cho biết: hiện nay, cung lao động tại Việt Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về lao động. Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng, miền. Cụ thể là gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn. Về mặt cầu, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay phần lớn được phân bổ trong khu vực nông nghiệp, nơi kỹ năng, tay nghề và trình độ của người lao động thường không cần ở mức độ cao. Lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực công nghiệp chỉ chiếm 20% và đối với khu vực dịch vụ chỉ chiếm khoảng 26%.

Theo Bộ LĐ-TB&XH thì hiện tại, chất lượng việc làm vẫn rất thấp. Cụ thể: việc làm giản đơn, không cần kỹ năng chiếm gần 40% tổng việc làm của cả nước. Ở khu vực thành thị tỷ lệ này là 18,1% nhưng khu vực nông thôn chiếm gần 50% tổng việc làm. Trong khi đó, so với những năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao của các ngành dịch vụ và công nghiệp tăng rất nhanh. Đến các KCX-KCN, khi tuyển công nhân cho các ngành may mặc, điện tử cũng yêu tiên người có kinh nghiệm, tay nghề, lao động đã qua đào tạo.

Bên cạnh các Doanh nghiệp Việt Nam, hiện nay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta cũng đang rất khát nguồn lao động có tay nghề, chất lượng cao. Trong khi đó, tỷ lệ lao động có chất lượng của chúng ta lại quá ít, không đủ để đáp ứng cho nhu cầu của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc quan tâm đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề vô cùng quan trọng hiện nay.

Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay đang còn rất thấp, trong khi nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề, chất lượng cao của các DN lại liên tục tăng. Điều này dẫn đến nguồn lao động của chúng ta dồi dào, nhu cầu việc làm lớn, nhưng các doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu lao động. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất nghiệp ngày càng gia tăng của nước ta hiện nay.

Để khác phục tình trạng này, Nhà nước cùng các cơ quan ban ngành đã đưa ra các giải pháp như: Tích cực tổ chức các trường đào tạo ngắn hạn cho người lao động nhằm trau dồi, nâng cao kiến thức thực tế và kỹ năng nghề nghiệp. Đồng thời cần quan tâm tới việc chăm sóc cuộc sống của người lao động, tuyên truyền, khuyến khích, động viên người lao động có ý thức trong việc học tập, nâng cao kiến thức, tay nghề cho bản thân. Đây là vấn đề vừa giúp người lao động tìm được nhiều cơ hội việc làm cho chính mình, và dần khắc phục được tình trạng yếu kém trong chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay.

Việc làm thời vụ nghề “lên ngôi” dịp cuối năm

Thời điểm này tưởng như khó nhưng thật ra lại là thời cơ tốt cho những ai chưa tìm được việc ổn định, đối với những công ty lớn những loại hình kinh doanh dịch vụ thì họ cần phải có có một lực lượng lao động thời vụ tăng cường, kéo theo đó là đội ngũ quản lý, giám sát cũng cần được bổ sung để có thể điều hành được khối lượng công việc lớn hơn nhiều so với ngày thường. Như đã đề cập thì dịp cuối năm đa phần các vị trí việc làm hiện tại không có sự thay đổi nhiều, ai cũng “cố thủ” vị trí của mình. Cho nên không có hiện tượng “nhảy việc” lung tung giữa các nơi, vì vậy đây là cơ hội tuyệt vời để bạn ứng tuyển, và tìm được một công việc phù hợp lâu dài mà không gặp nhiều ứng viên cạnh tranh.

Mặc dù chỉ mới bước vào giai đoạn đầu quý IV, nhưng các loại hình dịch vụ đã bắt đầu “rục rịch” hứa hẹn một mùa kinh doanh nhộn nhịp với hàng loạt hoạt động, lễ hội lớn dịp cuối năm. Đây là thời điểm mà nhu cầu mua sắm, ăn uống và vui chơi giải trí của người dân tăng đột biến, do đó cũng cần có một lượng lao động rất lớn mới có thể giải quyết được bài toán cung cầu.

Việc làm thời vụ “đến hẹn lại lên”
Năm hết tết đến là thời điểm nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao, nhưng với lực lượng nhân viên như hiện thì cho dù đó là một nhà hàng hay là một quán ăn “lề đường” cũng cần phải bổ sung thêm nhân sự để lắp vào khoảng trống tạm thời đó. Vì vậy việc làm thời vụ dịp cuối năm cũng trở nên vô cùng sôi động, với hàng loạt các hoạt động tuyển dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhưng đa phần là các công việc có tính chất lao động phổ thông, không đòi hỏi nhiều ở bằng cấp hay chuyên môn.
Mặc dù chưa phải là thời điểm quyết định, nhưng nhiều dịch vụ đã bắt đầu tuyển dụng lai rai, một phần là để tránh tình trạng không tìm được người lao động vào thời điểm cận kề, mặc khác để đảm bảo cho nhân viên của họ có thể làm quen với tính chất đặc thù của công việc. Tránh tình trạng bỡ ngỡ khi mới vào làm đã gặp phải một lượng khách hàng quá lớn, điều đó thể hiện họ là một người quản lý rất chuyên nghiệp cho dù họ là ai.
Thật vậy nếu như các công việc đơn giản như bưng bê, lau chùi quét dọn thì không khó để người lao động tiếp thu. Nhưng nếu ở vị trí khác như bán hàng may mặc chẳng hạn, bạn phải mất một thời gian để có thể biết được giá cả, cách thức bán hàng cũng như là “nghệ thuật” thuyết phục người mua. Điều đó lý giải vì sao một vài loại hình kinh doanh đã bắt đầu tuyển dụng, cho dù chưa phải là giai đoạn cao điểm.
Thành phần lao động trong giai đoạn này vô cùng đa dạng, nhưng nhiều nhất vẫn là các bạn trẻ, những người công nhân, những học sinh sinh viên có cuộc sống xa nhà. Có rất nhiều lý do khác nhau để họ tìm đến việc làm thời vụ, nhưng cho dù là gì đi nữa thì cũng không thể thiếu họ, nó như là một mối quan hệ cộng sinh mà đôi bên cùng có lợi, không thể có họ nếu như nhu cầu người dân không phát sinh đột ngột, ngược lại nếu không có họ thì sẽ rối tung cả lên vì cung không đủ cầu.
Theo khảo sát thì đa phần người lao động hài lòng và thích thú với công việc tạm thời đó, họ cảm thấy xứng đáng với sức lực họ bỏ ra, hơn nữa đây là giai đoạn người tiêu dùng “phóng khoán” nhất cho nên ngoài mức lương họ còn được những khoản thưởng khác không kém phần hậu hỉnh. May mắn hơn, cũng có nhiều trường hợp sau khi kết thúc quá trình lao động tạm thời họ đã được giữ lại với một công việc ổn định lâu dài. Nhưng điều quan trọng mà người lao động cần lưu ý là cho dù là công việc tạm thời nhưng cũng cần phải tìm hiểu trước khi làm việc, tránh tình trạng “bỏ của chạy lấy người” vừa tốn công sức vừa tốn thời gian. Cần phải nghiên cứu tính chất đặc thù của công việc, phải có một sự thỏa thuận trao đổi rõ ràng với người tuyển dụng tránh tình trạng bị các nhà tuyển dụng bốc lột công sức vì không có sự thỏa thuận trước, mà đa phần khi có mâu thuẫn xảy ra phần thiệt luôn về người lao động.

Việc làm “chính quy” tăng nhẹ
Nếu như cuối năm là thời điểm mà các loại hình lao động mang tính chất tạm thời hoạt động sôi nổi, thì hình thức tuyển dụng làm việc ổn định lâu dài có phần trầm lắng hơn. Thông thường thì thời điểm này không có ai dại gì mà nghỉ việc, thành quả sau một năm lao động vất vả đây sẽ là lúc quyết định. Vì vậy khó mà tìm được một chỗ trống để lắp vào, nếu có chăng cũng là những công việc mới phát sinh có thể giải quyết bằng nguồn lao động thời vụ, hoặc cần những người thật sự có kinh nghiệm có thể bắt tay vào làm việc ngay cho kịp tiến độ.
Vào giai đoạn “dầu sôi lữa bỏng” này khi cả guồng máy phải chạy cật lực, thì việc có thêm vài người thử việc dường như không phải là sự lựa chọn tối ưu, điều đó có thể kéo guồng máy chậm lại, vì dù sao người mới cũng cần phải có thời gian để thích nghi. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là họ không tuyển dụng, do tính chất công việc và cách tuyển không rầm rộ không phát tờ rơi, không dán thông báo đầy đường nên ta không cảm nhận được không khí tuyển dụng của họ. Lướt qua trang web CareerLink.vn ta sẽ thấy thông tin tuyển dụng vẫn được liên tục cập nhật.
Thời điểm này tưởng như khó nhưng thật ra lại là thời cơ tốt cho những ai chưa tìm được việc ổn định, đối với những công ty lớn những loại hình kinh doanh dịch vụ thì họ cần phải có có một lực lượng lao động thời vụ tăng cường, kéo theo đó là đội ngũ quản lý, giám sát cũng cần được bổ sung để có thể điều hành được khối lượng công việc lớn hơn nhiều so với ngày thường. Như đã đề cập thì dịp cuối năm đa phần các vị trí việc làm hiện tại không có sự thay đổi nhiều, ai cũng “cố thủ” vị trí của mình. Cho nên không có hiện tượng “nhảy việc” lung tung giữa các nơi, vì vậy đây là cơ hội tuyệt vời để bạn ứng tuyển, và tìm được một công việc phù hợp lâu dài mà không gặp nhiều ứng viên cạnh tranh.
Nhìn chung thời điểm cận cuối năm, các loại hình lao động thời vụ đã bắt đầu nhộn nhịp báo hiệu một cho một ngày hội việc làm lớn sắp diễn ra . Còn đối với các hình thức tuyển dụng lâu dài, do tuyển quanh năm nên đến thời điểm này cũng không tăng đột biến so với ngày thường là mấy. Đó là bức tranh toàn cảnh của thị trường lao động giai đoạn cận cuối năm 2012.

Cần làm gì khi công ty tiến hành sa thải?


- Nếu bạn bị sa thải vì doanh nghiệp không đánh giá cao bạn, bạn chưa cần buồn vội. Vì có thể bạn bị đánh giá sai, có thể môi trường ấy chưa phù hợp và chưa biết khơi dậy khả năng của bạn. Một sự tự đánh giá lại bản thân, về điểm mạnh lẫn điểm yếu là cần thiết nhất lúc này. Khi đã biết mình đang ở đâu, thiếu gì, cần bổ sung gì, muốn gì, bạn sẽ tiếp tục có định hướng mới.

Bế tắc và những khó khăn trong kinh doanh đã buộc nhiều doanh nghiệp phải tính cách cắt giảm nhân sự, thậm chí sa thải hàng loạt. Trước thực tế này, người lao động nên ứng phó ra sao?

Chuyện không của xứ người
Lâu nay-đặc biệt là từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008) mọi người vẫn hay nghe các thông tin về cắt giảm nhân sự liên tục, ồ ạt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài. Hoạt động sa thải này không chỉ diễn ra ở những doanh nghiệp nhỏ mà còn ở những tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Báo cáo của Gray & Christmas, Inc (Mỹ) mới đây còn thống kê ra 14 doanh nghiệp nổi tiếng đã tiến hành cắt giảm nhân sự dữ dội nhất trong năm 2011. Đó là HSBC với kế hoạch sa thải 25.000 nhân viên do HSBC đã dừng các hoạt động kinh doanh tại Hà Lan và Nga, bán 195 chi nhánh, phần lớn là tại New York. Công ty dược Merck thì công bố kế hoạch tiếp tục cắt giảm chi phí bằng cách giảm 13% nhân sự, tương đương 13.000 nhân viên cho đến năm 2015. Tập đoàn kinh doanh bán lẻ sách lớn nhất thế giới tuyên bố đóng cửa gần 400 cửa hàng và sa thải 10.700 nhân viên. Cisco Systems, Inc. giảm 9% lao động toàn thời gian, tương đương 6.500 nhân viên….

Những tưởng “cơn sóng thần” cắt giảm nhân sự chỉ quét qua các doanh nghiệp ở Mỹ, Anh hay một quốc gia nào đó nhưng trên thực tế, cơn sóng này đã diễn ra mạnh mẽ ở VN. Rùm beng nhất có lẽ là câu chuyện CTCK Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SBS) đã cho nghỉ việc hàng loạt nhân sự từ cấp cao đến nhân viên. Theo số liệu công bố thì nhân sự ở SBS tính đến cuối quý I/2012 chỉ còn 199 người, giảm 185 người tương đương 48% tổng nhân sự so với thời điểm đầu năm 2011. Hay mới đây, vào ngày 1/6/2012, Công ty cổ phần viễn thông di động toàn cầu Gtel Mobile - đơn vị điều hành mạng di động Beeline Việt Nam đã chính thức sa thải 148 nhân viên 

Không riêng người trong cuộc, bất cứ ai nghe các tin này cũng hết sức ngỡ ngàng. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực trạng TP.HCM đã có 10.626 DN ngưng, nghỉ, giải thể; Hà Nội có 7.745 DN hay Đồng Nai có 961 DN giải thể trong 6 tháng đầu năm nay và dự báo còn tăng, chắc chắn những câu chuyện như ở SBS, Beeline VN sẽ còn diễn ra. Theo thống kê của Cục Việc làm-Bộ LĐ-TB&XH thì năm 2011, số người đăng ký thất nghiệp đã tăng lên hơn 330.000 người. Và chỉ trong quý I/2012, có đến 116.000 người đăng ký thất nghiệp, tăng hơn 70% so cùng kỳ năm ngoái. Điều này cho thấy, sa thải nhân viên không còn là chuyện xa lạ và người lao động nên có sự chuẩn bị lẫn những ứng phó cần thiết.

Làm gì?
Khi đi làm, nhất là đã làm quen, có sự ổn định và gắn bó với công việc, không ai muốn nghĩ tới tình huống một ngày nào đó nhận một lá thư từ công ty đề nghị tự nguyện nghỉ việc. Tuy nhiên, trước những khó khăn và rủi ro trong hoạt động, trước tình thế doanh nghiệp phải cơ cấu lại hoạt động thì những động thái cắt giảm nhân sự nhằm tinh gọn bộ máy được dự báo sẽ phổ biến. Người lao động làm việc trong những công ty này cần chuẩn bị 2 tình huống: ngoài danh sách và trong danh sách gọi tên.

Ngoài “danh sách đen”
- Nếu doanh nghiệp triển khai hoạt động cắt giảm nhân sự mà vẫn giữ lại bạn, điều này có nghĩa doanh nghiệp vẫn cần bạn. Có thể do bạn có thâm niên trong công ty, do bạn có năng lực làm việc tốt, do bạn tạo được ấn tượng tốt. Nhưng cũng có thể, đó là do bạn may mắn thuộc các phòng ban chưa bị buộc phải tinh gọn. Dù là lý do nào thì người lao động được khuyên nên tìm hiểu chính xác. Vì chỉ có biết rõ lý do, bạn mới hiểu được ví trí của mình tại công ty có lâu dài không. - Các doanh nghiệp thường biết rõ, không nên sa thải hàng loạt lao động vì như vậy sẽ tạo hoang mang cho người ở lại. Nhưng tại sao họ vẫn làm? Bởi họ không còn cách nào khác. Và nếu như khó khăn vẫn đeo bám doanh nghiệp, chắc chắn sẽ còn nhiều đợt sa thải khác. Theo dõi tin tức, nắm rõ tình hình tài chính, kinh doanh của công ty sẽ giúp người lao động biết nên phòng bị như thế nào để không rơi vào thế bị động.
- Cắt giảm nhân sự, nhất là cắt giảm nhiều nhân sự sẽ kéo theo những thay đổi trong tổ chức công việc, quản lý…Liệu trong sự thay đổi đó, bạn có bị điều chuyển hay chịu sức ép mới về công việc và tâm lý không? Và bạn đón nhân sức ép mới với tâm thế sẵn sàng, hào hứng hay mệt mỏi? Tìm hiểu để biết khả năng thích nghi và chấp nhận với hoàn cảnh mới của bạn.
- Thực tế, vẫn có nhiều DN xem sa thải như một động thái sàn lọc chất lượng nhân sự. Trong trường hợp này, doanh nghiệp giữ bạn vì đánh giá cao năng lực của bạn. Vì thế, , bạn cần trao dồi, học hỏi thêm để phát triển sự nghiệp bản thân.

Trong “danh sách đen”
- Không ai vui nổi khi đột ngột biết tin bị sa thải. Bởi đi cùng thôi việc là vô vàn nỗi lo. Nếu bạn không tích lũy được gì trước đó, bạn sẽ lo lấy tiền đâu trang trải cuộc sống? Lo tình trạng mất việc này kéo dài lâu không?Lo thiên hạ đánh giá mình ra sao nếu biết bị buộc nghỉ việc chứ không phải tự xin nghỉ?... Nếu lo lắng nhiều bạn sẽ trở nên bi quan và mất tự tin. Tìm hiểu lý do của việc sa thải do khách quan (như công ty thua lỗ, kinh doanh trì trệ, lãnh đạo muốn tạo phe cánh…) hay do bản thân sẽ giúp bạn lấy lại tinh thần. 
- Nếu bạn bị sa thải vì doanh nghiệp không đánh giá cao bạn, bạn chưa cần buồn vội. Vì có thể bạn bị đánh giá sai, có thể môi trường ấy chưa phù hợp và chưa biết khơi dậy khả năng của bạn. Một sự tự đánh giá lại bản thân, về điểm mạnh lẫn điểm yếu là cần thiết nhất lúc này. Khi đã biết mình đang ở đâu, thiếu gì, cần bổ sung gì, muốn gì, bạn sẽ tiếp tục có định hướng mới.
- Bạn cần tích cực tìm việc, qua nhiều nguồn khác nhau. Nếu bạn có năng lực và hoạt động trong ngành có nhu cầu tuyển dụng tương đối cao, bạn sẽ tìm được việc trong thời gian sớm. Ngược lại, bạn không nên tự ti chán nản. Bạn cần tìm cách cải thiện năng lực bản thân qua cách tham gia các khóa học đồng thời tìm việc làm phù hợp với bản thân hơn như làm ở những doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn, ít điều kiện hơn, chấp nhận mức thu nhập thấp hơn…Nếu vẫn chưa tìm được việc chính thức, bạn có thể tìm các việc bán thời gian hoặc tự tạo việc cho mình. Làm việc sẽ giúp bạn duy trì được sự tự tin và thấy bản thân vẫn có giá trị. Khi đó, cơ hội sẽ đến nhiều hơn.

KHI LAO ĐỘNG NGOẠI TỈNH: LOAY HOAY BÀI TOÁN ĐI HAY Ở

Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Văn Xê - phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH TP.HCM - cho rằng các DN cứ kêu ca thiếu lao động rồi đòi tuyển lao động nước ngoài mà không quan tâm việc vì sao thiếu lao động. “Các DN tăng lương đi, xem lao động có đến với họ hay không. Cứ kêu ca thiếu lao động trong lúc lương tăng nhỏ giọt, không đảm bảo đời sống người lao động thì lấy đâu ra người làm việc cho họ?”. Còn ông Trần Hồng Sơn, chuyên viên Liên đoàn Lao động TP.HCM, cho biết ngoài việc trả lương thấp, nhiều DN còn luôn tìm cách để trừ các khoản tiền phúc lợi của người lao động. “Ngay cả tiền ăn, tiền BHXH, BHYT... họ còn tìm cách bóp chẹt người lao động thì việc người lao động quay lưng với DN là chuyện không tránh khỏi” - ông Sơn nói.

Lạm phát, thất nghiệp, kinh tế khủng hoảng đã khiến cho lao động ngoại tỉnh đang sống và làm việc trong các KCN – KCX tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương… vô cùng chật vật. Nhiều người phải bỏ công nhân làm các công việc khác như buôn bán hoặc tìm việc làm thêm khác để tăng thu nhập. Trong số đó không ít người đã chọn cách trở về quê.

Lao đao trước làn sóng doanh nghiệp phá sản
Theo điều tra của Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, trong tổng số 1,5 triệu người lao động (NLĐ) đang làm việc tại các KCN, trung bình có 60% là người ngoại tỉnh. Tuy nhiên, các vấn đề hỗ trợ cho lao động ngoại tỉnh lại chưa được các doanh nghiệp chú ý. Không những vậy, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2012 đã có nhiều doanh nghiệp xin phá sản hoặc tạm ngưng hoạt động khiến cho cuộc sống của lao động ngoại tỉnh càng trở nên khốn đốn. 
Tại các khu chế xuất và công nghiệp ở TPHCM đã có hơn 100 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ngưng hoạt động khiến cả trăm ngàn công nhân rơi vào thất nghiệp. Trong khi đó, từ đầu năm đến nay theo Cục Thuế TPHCM đã có ít nhất 6.000 doanh nghiệp gửi thông báo đến Cục này cho biết ngưng hoạt động. Nguyên nhân giải thể, phá sản là do sản xuất kinh doanh thua lỗ, thiếu vốn, không tiêu thụ được sản phẩm; khó khăn về địa điểm sản xuất kinh doanh; đóng cửa để thành lập doanh nghiệp mới, chuyển đổi ngành nghề sản xuất và sáp nhập với doanh nghiệp khác. Theo Tổng cục Thống kê cũng cho biết, hiện tại số doanh nghiệp đang dư thừa lao động do phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh cũng chiến hơn 54% trong tổng số doanh nghiệp.
Việc các công ty, doanh nghiệp giải thể, thu hẹp sản xuất đã tác động trực tiếp đến người lao động, trong đó lao động ngoại tỉnh là bị ảnh hưởng lớn nhất. Không có việc làm hoặc lương thấp trong khi mỗi ngày họ vẫn phải chi trả các khoản cho nhà ở, điện nước, tiền ăn và nhiều khoản phụ khác. Nhiều người phải tìm công việc khác với hy vọng có thể ở lại thành thị mặc dù cuộc sống có chật vật. Nhiều người khác trở về quê để tránh thất nghiệp trong thời bão giá như hiện nay.
Một công nhân quê Nghệ An làm tại khu Công nghiệp Sóng Thần cho biết: Do thu hẹp sản xuất nên công ty cần sa thải một lượng lớn công nhân. Vì vậy, anh cùng nhiều công nhân khác chưa có tay nghề hoặc tay nghề yếu tự nhiên trở thành thất nghiệp. Hai tháng nay anh chưa xin được công việc khác nên đang do dự không biết nên ở lại hay về quê làm ruộng phụ giúp gia đình. Bởi hiện tại anh đang ở phòng trọ giá 600.000đồng/tháng, tính ra là phải trả 20000đồng/ngày. Rồi tiền điện, nước, ăn uống sinh hoạt trong ngày ít cũng phải hết 50000đồng, trong khi một ngày anh không có bất kỳ một khoản thu nhập nào.
Theo Trung tâm Giới thiệu việc làm TPHCM, trong tháng 4/2012 đã có 17.000 người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp, đến tháng 5 và nửa đầu tháng 6 con số này nhảy lên gần 30.000. Còn theo Bảo hiểm xã hội TPHCM chỉ trong 5 tháng đầu năm nay, nơi đây đã chi trả trợ cấp thất nghiệp cho hơn 31.000 người với tổng số tiền hơn 140 tỉ đồng.
Tại Hà Nội, Bà Nguyễn Thị Kim Loan - Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội cho biết, tính riêng tuần thứ 4, tháng 6-2012, đã có 551 người lao động đến đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp. Nếu tính chung từ đầu năm đến 15-6, đã có gần 2.000 lao động đến đăng ký hưởng BHTN. Trong đó lao động ngoại tỉnh chiếm tỷ lệ cao.

Lao động ngoại tỉnh về quê vì lương thấp
Không chỉ những lao động thất nghiệp mới có cuộc sống chật vật, mà ngay những lao động đang làm việc tại các KCN-KCX, cuộc sống cũng chẳng tốt hơn. Bởi với mức lương hiện tại người lao động nhận được là quá thấp, không đủ đáp ứng cho nhu cầu trước thay đổi quá lớn của nền kinh tế nước ta hiện nay. 
Theo Thạc sĩ Lê Văn Thành, trưởng phòng quản lý khoa học Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cho biết: lương cơ bản của các lao động trong khu vực FDI chỉ khoảng 1,4 triệu đồng/tháng, nếu tăng ca cật lực cũng chỉ đạt 1,8-2,5 triệu đồng/tháng. Thu nhập như vậy là không thể đủ chi tiêu trong tình hình giá cả tăng vọt như hiện nay. “Mặt bằng lương của Việt Nam quá thấp, việc quy định lương tối thiểu như hiện nay cũng vô tình tạo điều kiện cho các DN dựa vào đó để trả thấp cho người lao động”.
Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Văn Xê - phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH TP.HCM - cho rằng các DN cứ kêu ca thiếu lao động rồi đòi tuyển lao động nước ngoài mà không quan tâm việc vì sao thiếu lao động. “Các DN tăng lương đi, xem lao động có đến với họ hay không. Cứ kêu ca thiếu lao động trong lúc lương tăng nhỏ giọt, không đảm bảo đời sống người lao động thì lấy đâu ra người làm việc cho họ?”. Còn ông Trần Hồng Sơn, chuyên viên Liên đoàn Lao động TP.HCM, cho biết ngoài việc trả lương thấp, nhiều DN còn luôn tìm cách để trừ các khoản tiền phúc lợi của người lao động. “Ngay cả tiền ăn, tiền BHXH, BHYT... họ còn tìm cách bóp chẹt người lao động thì việc người lao động quay lưng với DN là chuyện không tránh khỏi” - ông Sơn nói.
Chỉ như vậy cũng đủ biết người lao động phải chịu thiệt thòi như thế nào, nhất là lao động ngoại tỉnh. Cuộc sống xa nhà, mọi nhi phí, sinh hoạt đều dựa vào đồng lương ít ỏi hàng tháng. Trong khi họ phải lao động cật lực, bị vắt kiệt sức nhưng cuộc sống vẫn phải không tốt hơn. Đặc biệt là từ đầu năm 2012 đến nay, tất cả các chi phí từ nhà ở, điện nước, xăng, thực phẩm… đều tăng chóng mặt, nhưng mức lương thì vẫn không có thay đổi. Đứng trước tình trạng này, lao động ngoại tỉnh không biết nên chọn giả pháp nào: Nên bỏ công ty, xí nghiệp hay vẫn tiếp tục bám trụ. Đó thất sự là một bài toán khó đối với người lao động trong tình hình kinh tế hiện nay.

Nên lo hay mừng trước lương tối thiểu tăng?

Vì thế, báo cáo kết quả nghiên cứu tâm lý - hành vi người tiêu dùng của người dân TPHCM mới nhất do Báo Sài Gòn Tiếp Thị đã chỉ ra, chi phí cho giải trí (xem phim, kịch, ca nhạc…) chỉ chiếm 3% tổng thu nhập hộ gia đình. Điều này cho thấy, người dân đã dành gần hết thu nhập cho nhu cầu tối thiểu (như ăn mặc) nên không có điều kiện để hưởng thụ các loại hình giải trí bên ngoài.

Mặc dù phải đến tháng 10/2012, Chính Phủ mới ban hành phương án chính thức về điều chỉnh lương tối thiểu vùng năm 2013 nhưng thị trường lao động đã xôn xao trước tin tiếp tục nâng lương tối thiểu.

Tăng thêm 500-700 ngàn/người/tháng
Căn cứ vào 2 phương án tăng lương tối thiểu vùng năm 2013 trong các loại hình doanh nghiệp mà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) vừa có công văn đề nghị địa phương lấy ý kiến, lương tối thiểu vùng 1 tăng từ 2 triệu đồng/tháng lên 2,7 triệu đồng/tháng, vùng 2 tăng từ 1,78 triệu đồng lên 2,4 triệu đồng, vùng 3 tăng từ 1,55 triệu đồng lên 2,13 triệu đồng và vùng 4 tăng từ 1,4 triệu đồng lên 1,93 triệu đồng. 

Tuy nhiên, do lo ngại điều chỉnh này sẽ làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến khả năng chi trả của doanh nghiệp nên Bộ cũng đưa thêm phương án 2. Theo đó, mức điều chỉnh vùng 1 là 2,5 triệu đồng, vùng 2 là 2,25 triệu đồng, vùng 3 là 1,95 triệu đồng và vùng 4 là 1,8 triệu đồng. Dự kiến, Chính phủ sẽ công bố điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng nói trên vào tháng 10/2012 và việc điều chỉnh lương sẽ bắt đầu từ ngày 01/1/2013.

Nếu áp dụng, lương tối thiểu mới ước tăng khoảng 35% so với lương tối thiểu cũ. Vì thế, người lao động ít nhiều hồ hởi. Tuy nhiên, giám đốc một CTCP chế biến xuất nhập khẩu thủy sản cho biết, hiện công ty đã trả lương cho nhân viên cao hơn so với quy định lương tối thiểu này. Nghĩa là việc tăng lương tối thiểu chỉ có ý nghĩa với doanh nghiệp quốc doanh (tính lương theo ngạch-dựa trên lương tối thiểu), cho những người đang nhận các trợ cấp xã hội (như nghỉ hưu, thất nghiệp, thai sản…) và thuận lợi cho người lao động trong việc hưởng bảo hiểm xã hội.

Dù vậy, không thể phủ nhận phương án điều chỉnh lương tối thiểu mới này đã thu hẹp dần khoảng cách giữa lương cơ bản với lương thực tế. Theo mặt bằng lương chung thì mức lương doanh nghiệp trả cho công nhân trong khoảng 2,5-5 triệu đồng/tháng/người tùy ngành nghề. Với lao động có trình độ cao hơn, mức lương trung bình chênh lệch là 1,5-2,5 lần. Nghĩa là các nhà làm chính sách đã tiến dần đến mục đích thu hẹp khoảng cách về lượng. Nhưng với người lao động, quan trọng là lương có đủ sống không.

Lương khó đua được với giá
Mới đây, trong dự thảo Luật sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân dự kiến áp dụng từ 1/7/2013, mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế tăng từ 4 triệu đồng hiện hành lên 9 triệu đồng/tháng, tương ứng 108 triệu đồng/năm. Mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc tăng từ 1,6 triệu đồng/tháng hiện hành lên 3,6 triệu đồng/tháng. Tính toán này của Bộ Tài Chính đã gián tiếp thể hiện, Bộ Tài Chính ghi nhận thực tế chi tiêu trong mỗi gia đình đã tăng và sẽ còn tăng. 

Trong chia sẻ với báo giới khi lương tăng vào ngày 01/5/2012, ông Lê Hải Mơ, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính cũng thừa nhận “thu nhập từ lương dù cải thiện nhưng mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của người lao động chứ chưa nói đến việc chi tiêu cho gia đình họ”. 

Khảo sát sơ bộ từ một số gia đình, nhất là gia đình có con nhỏ hay phải thuê mướn nhà thì thu nhập 12-15 triệu đồng/tháng của mỗi hộ gần như chỉ đủ chi tiêu trong mức tiết kiệm. Bởi lẽ, trước một loạt những tác động từ giá xăng, điện nước, gas tăng, giá nhiều mặt hàng, dịch vụ cũng nhảy múa theo. Sắp tới, người lao động còn tiếp tục lo âu khi xăng lại tăng thêm 1100 đồng/ lít lên 23.000 đồng/ lít (ngày 13.8.2012-Xăng 92). Xăng tăng kéo theo nhiều đợt tăng giá mới mà trước mắt là thực phẩm rục rịch tăng giá và các hãng taxi như Vinasun tuyên bố tăng giá cược thêm 500 đồng/km, .

Vì thế, báo cáo kết quả nghiên cứu tâm lý - hành vi người tiêu dùng của người dân TPHCM mới nhất do Báo Sài Gòn Tiếp Thị đã chỉ ra, chi phí cho giải trí (xem phim, kịch, ca nhạc…) chỉ chiếm 3% tổng thu nhập hộ gia đình. Điều này cho thấy, người dân đã dành gần hết thu nhập cho nhu cầu tối thiểu (như ăn mặc) nên không có điều kiện để hưởng thụ các loại hình giải trí bên ngoài.
Những khoản bù vào thâm hụt, mua sắm lớn hay để tích lũy, đầu tư thường được người lao động trông đợi ở những thu nhập ngoài lương như thưởng lễ tết. Tuy nhiên, với thực trạng chỉ riêng TPHCM đã có hơn 1200 DN giải thể, 1065 DN tạm ngưng hoạt động trong 06 tháng đầu năm 2012, với thua lỗ gia tăng và đa số DN chịu cảnh suy giảm lợi nhuận, khả năng người lao động bị cắt giảm nguồn thu ngoài lương rất cao. 
Tăng lương rõ ràng là tin tốt nhưng mong muốn nhất của người lao động lúc này là đừng bị cắt giảm các nguồn thu nhập dù là lý do nào và hy vọng giá cả thị trường đừng biến động để người lao động đỡ đau đầu trong tính toán chi tiêu. 

Tình hình thị trường lao động của TP.HCM tháng 7/2012

“Tháng 8 và những tháng sắp tới một lượng lớn sinh viên, học sinh tốt nghiệp ra trường làm nguồn cung dồi dào, đa dạng. Nhưng do tình hình kinh tế xã hội và sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn chưa phát triển mạnh, xu hướng giảm việc còn tiếp tục”. Đó là nhận định của ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM về tình hình lao động việc làm của thành phố trong thời gian tới.


Nền kinh tế TP.HCM còn gặp nhiều khó khăn
Nền kinh tế của cả nước đang bước vào giai đoạn lạm phát giảm rõ nét khi Tổng cục Thống kê công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2012 sụt giảm 0,29% so với tháng trước. Đây là mức giảm CPI mạnh nhất kể từ năm 2009 trở lại đây. Tình hình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn TP.HCM cũng gặp nhiều khó khăn với mức giảm CPI 0,57%. Bên cạnh đó, theo báo cáo của UBND thành phố, sáu tháng đầu năm GDP trên địa bàn TP.HCM ước đạt 288.591 tỷ đồng, tăng 8,1% trong khi cùng kỳ năm 2011 tăng 9,9%. Điều đó chứng tỏ, kinh tế TP.HCM đang phát triển chậm lại, các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh, đồng thời, thị trường tiêu thụ cũng đang có dấu hiệu sụt giảm. Cũng theo báo cáo, tình hình khó khăn của doanh nghiệp ngày càng tăng, khi chỉ trong sáu tháng đầu năm, hơn 1.200 doanh nghiệp (tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái) với tổng quy mô vốn 5.260 tỷ đồng đã hoàn tất thủ tục giải thể tại Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM. Thêm vào đó, hàng nghìn doanh nghiệp khác trên địa bàn thành phố cũng đang gửi thông báo tạm ngưng hoạt động. Nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực vượt qua giai đoạn khó khăn của nền kinh tế bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm tối đa chi phí kinh doanh, tái cơ cấu nguồn nhân lực. Chính vì thế, trong sáu tháng còn lại của năm nay, thành phố sẽ triển khai đồng bộ nhiều biện pháp về lãi suất, miễn giảm thuế, hỗ trợ thị trường… nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. 

Nhu cầu tuyển dụng giảm
Tình hình kinh tế của TP.HCM trong tháng 7/2012 phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người lao động. Các doanh nghiệp vẫn chưa giữ được mức độ ổn định trong việc phát triển sản xuất kinh doanh và quá trình tái cơ cấu nguồn nhân lực.
Theo Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM, chỉ số tuyển dụng tháng 7 của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố giảm 4,34% so với tháng 6. Một số ngành nghề tuyển nhiều lao động hơn hẳn so với tháng trước như: dịch vụ và phục vụ (16,31%), bán hàng (7,68%), Công nghệ thông tin (6,37%), quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng (5,32%)... Đặc biệt, nhóm ngành Marketing - Nhân viên kinh doanh có nhu cầu tuyển dụng cao nhất (22,86%). Bên cạnh đó, trong tháng 7/2012 này, các doanh nghiệp vẫn tiếp tục chú trọng vào nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật như trình độ đại học - Đại học (17,83%), Cao đẳng (12,33%), Trung cấp (29,26%), Công nhân kỹ thuật - Sơ cấp nghề (6,63%) tập trung chủ yếu vào các ngành nghề kinh doanh, kế toán... Tuy vậy, thị trường lao động vẫn có 33,95 % nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo nghề và chuyên môn nghiệp vụ.

Nguồn cung nhân lực dồi dào 
Lượng cung nhân lực của TP.HCM trong tháng 7/2012 tăng cao so với tháng 6/2012 do lượng lớn sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề và tham gia vào thị trường tìm việc, bổ sung vào nguồn lao động cho thành phố. Lượng nhân lực tăng cao trong lúc nhu cầu tuyển dụng lao động của thành phố đang có xu hướng giảm đưa thị trường lao động đi đến mất ổn định - cung vượt cầu. 
Nguồn nhân lực dồi dào tạo điều kiện thuận lợi các doanh nghiệp khi săn đầu người nhưng đây cũng là điều gây áp lực lớn lên nguồn cung lao động vì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chưa đi vào ổn định, và nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp cũng không nhiều.
Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh tìm kiếm việc làm dành cho sinh viên mới ra trường là rất lớn, trong khi nhà tuyển dụng có nhiều lựa chọn từ nguồn cung đa dạng. Chính vì thế, hầu hết phần sinh viên mới tốt nghiệp khó tìm được công việc phù hợp với ngành nghề tốt nghiệp ngay mà phải chấp nhận làm việc trái ngành-trái nghề, công việc mang tính thời vụ, bán thời gian hoặc thất nghiệp. Lý do được đưa ra là đa phần các doanh nghiệp tuyển dụng chú trọng về chất lượng, kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ ngoai ngữ cao trong khi các sinh viên vừa ra trường chưa thể đáp ứng được.
Ngoài ra, tình trạng tái cấu trúc nguồn lao động của các doanh nghiệp dẫn đến giảm việc ngày càng nhiều, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, tài chính ngân hàng, dịch vụ, công nghiệp, thương mại… là một trong những vấn đề của thị trường lao động khiến người lao động khó khăn hơn trước.

Khoảng 21.000 chỗ làm việc trống cho tháng 8/2012
“Tháng 8 và những tháng sắp tới một lượng lớn sinh viên, học sinh tốt nghiệp ra trường làm nguồn cung dồi dào, đa dạng. Nhưng do tình hình kinh tế xã hội và sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn chưa phát triển mạnh, xu hướng giảm việc còn tiếp tục”. Đó là nhận định của ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM về tình hình lao động việc làm của thành phố trong thời gian tới.
Theo khảo sát nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong tháng 7, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM dự báo xu hướng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong tháng 8/2012 sẽ rơi vào khoảng 21.000 chỗ làm việc trống dành cho người lao động.
Nhu cầu tuyển dụng trong tháng này sẽ vẫn tiếp tục chú trọng tuyển dụng lao động có tay nghề và đạt trình độ với yêu cầu về kỹ năng, năng lực quản lý, chuyên môn kỹ thuật… Cụ thể, nhu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn Đại học trở lên chiếm khoảng 19%, Cao đẳng, trung cấp khoảng 41%, Công nhân kỹ thuật - sơ cấp nghề chiếm 10% và lao động phổ thông chỉ khoảng 30%.

THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CỦA TP HCM ĐẦU QUÝ 3/2012

- Cắt giảm có thương lượng chính sách trợ cấp thôi việc cao hơn quy định pháp luật đối với trường hợp cần giảm lao động (lớn tuổi, làm việc yếu kém, không phù hợp công việc)….


Kết quả khảo sát, cập nhật thông tin cung cầu lao động tại 3.127 doanh nghiệp (DN) trong tháng 7 của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực & Thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh, được tiến hành trên 26.310 nhu cầu tuyển dụng lao động và 17.433 người có nhu cầu tìm việc đã chỉ rõ thực trạng đáng lo ngại trong cung cầu nhân lực ngay tại thành phố đông dân nhất cả nước này.

Nghịch lý cung – cầu rõ nét ngay đầu quý 3/2012

Trong 6 tháng đầu năm 2012, thị trường lao động TP HCM đã có nhiều chuyển biến phức tạp, tỷ lệ lao động bị cắt việc làm tăng cao do toàn thành phố có hơn 1.200 DN giải thể và 1.065 DN tạm ngưng hoạt động. Theo Ông Nguyễn Cao Thắng – Phó Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm - Sở LĐTB-XH TPHCM, 7 tháng đầu năm có trên 72.350 người đăng ký thất nghiệp và gần 53.000 người trong số đó đang được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tình hình này sẽ còn tiếp tục diễn biến theo chiều hướng đáng ngại khi từ tháng 7/2012 nguồn cung nhân lực tăng do một lượng lớn học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường có nhu cầu tìm việc làm.

Giữa bức tranh ảm đạm của thị trường lao động cung đang vượt quá cầu này, lại tồn tại một nghịch lý khá lớn là vẫn có nhiều DN cần lao động nhưng lại không tuyển được hoặc không tuyển đủ chỉ tiêu đề ra. Thậm chí, có DN còn giảm cả chỉ tiêu tuyển dụng nhưng vẫn không tuyển được người. Nghịch lý cung - cầu lao động ngày càng rõ nét trong 6 tháng cuối năm 2012, cụ thể là đầu tháng 7 chỉ số nhu cầu tuyển dụng lao động trên địa bàn thành phố giảm 4,34% so tháng 6/2012. Nếu chỉ số cầu lao động tại các ngành tuyển nhiều lao động như Marketing -  Nhân viên Kinh doanh là 22,86%, Công nghệ thông tin (6,37%), Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng (5,32%), …, thì tương ứng chỉ số cung của các ngành này là Marketing -  Nhân viên Kinh doanh (khoảng 10%), Công nghệ thông tin (khoảng 5 %), Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng (khoảng 14,7%), … Đồng thời, dạo quanh các trung tâm giới thiệu việc làm tại TP.HCM có thể thấy số lượng tuyển dụng khá dồi dào tuy nhiên lượng người được tuyển lại rất ít. Cụ thể trong phiên giao dịch việc làm thành phố lần 8/2012 vừa qua, có 2.489 lượt người tham gia tìm việc nhưng số người đạt yêu cầu được thông báo nhận việc chỉ có 547 người. Trong khi đó, cũng theoTrung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, trong quý 3 này dự kiến nhu cầu nhân lực TP là 65.000 cầu lao động (cụ thể tháng 7 cần 20.000 nhân sự, tháng 8: 20.000 nhân sự và tháng 9: 25.000 nhân sự). Ông Trần Anh Tuấn – Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực & Thông tin thị trường lao động TP HCM đã nhận xét như sau: “Thực trạng thị trường lao động những năm gần đây tại thành phố luôn diễn biến tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động từ lao động phổ thông trong các ngành chế biến, sản xuất, xây dựng, dịch vụ… đến lao động chất lượng cao trong các ngành kỹ thuật, quản lý sản xuất – kinh doanh. Nguyên nhân do tình trạng phân bố nhân lực không đồng đều giữa các khu vực kinh tế, ngành kinh tế. Điều đáng quan tâm là khu vực kinh tế phi kết cấu chiếm tỷ lệ trên 40% và đang có xu hướng tăng với đa dạng ngành nghề, nhiều chỗ làm việc mới thu hút ngược lại khu vực kinh tế chính thức”.

Để khắc phục tình trạng này, cũng theo ông Tuấn, cần có một thời gian lâu dài kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ. Đối với DN, điều cần thiết là nên chú trọng xây dựng kế hoạch nhân lực trung và dài hạn xoay quanh cơ cấu ngành nghề, quy mô, chất lượng. Đồng thời cần nắm rõ thông tin về nhu cầu xã hội để xây dựng những chính sách đào tạo, tiền lương, phúc lợi và khen thưởng hợp lý, giúp nâng cao tay nghề, nâng cao năng suất lao động, từ đó thu hút nhân lực phù hợp thực tế đời sống xã hội và đảm bảo giá trị sức lao động, đặc biệt đối với lực lượng lao động kỹ thuật, lao động phổ thông…

Hạn chế tuyển dụng lao động ngày càng tăng
Một hệ quả của tình hình kinh tế chưa có nhiều chuyển biến tích cực như hiện nay là DN ngày càng chú trọng đến việc tinh giảm tất cả các khâu sản xuất, kinh doanh, kể cả khâu tuyển dụng nhân sự. Theo đó, nhiều DN đang tiến hành sắp xếp lại lực lượng lao động, dẫn đến giảm việc làm. Rõ nét nhất là DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, tài chính ngân hàng, dịch vụ, công nghiệp, thương mại... Có thể nhận thấy các hình thức DN đang sắp xếp lại nhân sự như sau:

- Hình thức phổ biến là sát nhập các bộ phận một lúc hoặc từng bước sát nhập (Tổ, phân xưởng, phòng, ban, xí nghiệp) từ đó thuyên chuyển, hạ cấp người quản lý. Nhân viên làm việc năng suất, hiệu quả thấp được tinh giản sang bộ phận mới mà không tuyển thêm lao động (như bán hàng, tiếp thị, thu mua, dịch vụ quảng cáo sản phẩm, sản xuất mặt hàng mới...). 
- Giảm tiền lương đối với nhân viên hành chính có mức lương cao với lý do doanh nghiệp không đạt doanh số kinh doanh, nếu người lao động không đồng ý có thể xin thôi việc.
- Điều chuyển nhân viên, người lao động sang đơn vị khác hoặc đơn vị mới thành lập. Nhiều trường hợp được điều chuyển không phù hợp nghiệp vụ chuyên môn hoặc địa bàn làm việc xa có thể phải tính đến chuyện chấm dứt công tác.
- Không ký lại hợp đồng đối với người làm việc có thời hạn từ 1 đến 3 năm nếu năng lực làm việc, lao động hiệu quả không cao.
- Cắt giảm có thương lượng chính sách trợ cấp thôi việc cao hơn quy định pháp luật đối với trường hợp cần giảm lao động (lớn tuổi, làm việc yếu kém, không phù hợp công việc)….

Do đó, để giúp người lao động có thể chủ động đối phó với tình trạng này, ông Nguyễn Đăng Tiến - Phó giám đốc BHXH TP HCM cho rằng “Người lao động cần tỉnh táo và bảo vệ mình khi nhận việc, bởi nếu biết, hiểu luật thì quyền lợi của mình sẽ được đảm bảo và tránh được sự chán nản, từ đó dẫn đến tâm lí muốn bỏ việc”. Lời khuyên này rất có giá trị trong thời buổi tuyển dụng và ứng tuyển đang hết sức phức tạp như hiện nay. Theo dự báo của các chuyên gia, tháng 8 và những tháng sắp tới, tình hình kinh tế xã hội và sản xuất – kinh doanh của DN vẫn chưa phát triển mạnh thì xu hướng giảm việc làm còn tiếp tục, gây ra các áp lực việc làm (cung – cầu) ảnh hưởng cả hai phía: người lao động tìm việc và nhà tuyển dụng.

TUYỂN DỤNG HẤP DẪN NHƯNG NGƯỜI LAO ĐỘNG THỜ Ơ

Tuy nhiên, trong khi nhiều doanh nghiệp đang “đau đầu” tìm kiếm nhân sự thì một số công ty, dù quy mô sản xuất không lớn nhưng lại có nguồn lao động khá ổn định, đơn cử như công ty T.H nơi chị N.T.Diệp làm việc đã được hơn 3 năm. Mặc dù công ty chỉ khoảng 20 nhân công, kinh doanh trong lĩnh vực gia công đóng gói và sản xuất bao bì nhưng từ khi thành lập vào năm 2010 đến nay, số lượng công nhân tại đây hầu như vẫn không thay đổi. Nói về nguyên nhân mình vẫn chấp nhận làm việc tại đây dù mức lương trung bình chỉ khoảng 2,5 triệu/tháng, thấp hơn rất nhiều so với công ty may mặc sát bên đang đăng tuyển công nhân với mức lương trên 5 triệu/tháng, chị Diệp cho biết “Ở công ty, điều mà chị và các đồng nghiệp thích nhất chính là môi trường làm việc rất vui vẻ, các sếp lại tâm lý và chú trọng đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân viên. Mỗi dịp lễ nhỏ hay lớn, dù cho tình hình công ty có khó khăn thế nào thì công nhân vẫn được thưởng rất khá. Đó là chưa kể có trường hợp đồng nghiệp bị tai nạn nghề nghiệp do bất cẩn trong thi công, công ty đã chịu toàn bộ tiền viện phí. Không những vậy ban giám đốc còn liên tục động viên, thăm hỏi. Theo chị, chính tình người và sự quan tâm chu đáo đã giữ chị lại với công ty”


Theo báo cáo phân tích thị trường lao động quý 1 -2012 vừa được Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP HCM công bố vào cuối tháng 3 cho thấy, mặc dù trong thời điểm 3 tháng đầu năm 2012 chỉ số nhu cầu nhân lực đã giảm 14,43% so với cùng kỳ năm 2011, cùng với nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông các ngành gia công sản xuất không gay gắt như quý 1 năm 2010 và 2011, nhưng tình trạng thiếu hụt nhân sự tại doanh nghiệp sản xuất vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó có không ít doanh nghiệp đã áp dụng nhiều “chiêu bài” hấp dẫn như cam kết tăng lương, thưởng, hỗ trợ tàu xe v.v… mà vẫn không thể tuyển đủ nhân công để lắp đầy các dây chuyền sản xuất …

Dọc theo tuyến đường từ Quốc lộ 1 A- khu vực vòng xoay Phú Lâm đến đường Trường Chinh – quận Tân Bình, một trong những địa bàn tập trung khá nhiều các công ty, xí nghiệp và cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ tại TP HCM, có hơn 50 bảng thông báo tuyển dụng với đủ các nội dung, kích cỡ khác nhau, hầu hết đều được thiết kế với hình thức và màu sắc bắt mắt. Có thể dễ dàng nhìn thấy các cam kết tuyển dụng lý tưởng như được làm việc trong môi trường máy lạnh, trả ngay tiền tàu xe về lễ, tết, tặng tiền cho công nhân giới thiệu được nhân sự, hỗ trợ chi phí nhà trọ, hay thu nhập cao hơn cả giới công chức văn phòng với mức lương dao động từ 4 triệu đến hơn 7,5 triệu đồng/tháng v.v…, có trường hợp doanh nghiệp còn phải cử người ra đường túc trực để tuyển dụng trực tiếp, nhưng hiệu quả vẫn không đạt được như mong đợi. Chị N.T.Minh, chuyên viên tuyển dụng của công ty may mặc M.G cho biết: “Mặc dù đã kê bàn ra tận ngoài đường để phỏng vấn trực tiếp ứng viên, nhưng từ trước tết nguyên đán đến giờ công ty cũng chỉ tuyển được khoảng 6 chuyền sản xuất, còn 2-3 chuyền vẫn chưa có nhân công, ảnh hưởng đến năng suất và tiến độ giao hàng của công ty”.

Chia sẻ hoàn cảnh của công ty chị Minh là bà T.T Mây, Giám đốc một công ty May mặc xuất khẩu tại quận Bình Tân, TP.HCM: “ Bộ phận tuyển dụng và cả Ban Giám đốc hiện đang rất lo lắng vì mặc dù đã tăng mức lương lên 20% so với năm 2011 nhưng vẫn không thể tuyển đủ nhân sự đáp ứng các hoạt động sản xuất của công ty. Hiện nay số công nhân còn thiếu đã lên đến 120 người”. Đồng cảnh ngộ, Ông H.T.Kiệt, Phó giám đốc một Cty Dệt cùng nằm trên địa bàn quận Bình Tân cho biết công ty đã chủ động nâng mức lương từ 4 triệu đồng/tháng lên 5 triệu đồng/tháng, cao hơn so với trong năm 1 triệu đồng, bao luôn tiền nhà trọ nhưng chỉ tuyển được 29/56 người cần tìm.

Lý giải một phần nguyên nhân của vấn đề này, chị H.M.Thư – nhân viên tuyển dụng của công ty môi giới việc làm một chiều miễn phí trên đường Trường Chinh – quận 12 cho rằng “Hầu như mỗi ngày công ty giới thiệu được khoảng 5-6 lao động phổ thông cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đa số người tìm việc đều rất cảnh giác với các tuyển dụng quá hấp dẫn vì sợ bị lừa hay sợ buộc phải tăng ca quá mức. Không chỉ người lao động phổ thông, giới văn phòng cũng rất e ngại các tuyển dụng quá hấp dẫn vì cho rằng đa phần đều là tuyển dụng của các công ty bán hàng đa cấp”. Có mặt tại trung tâm tuyển dụng, chị P.T.Hương cũng đồng tình với ý kiến này, mặc dù đang rất cần việc nhưng khi thấy các bảng thông báo tuyển dụng quá hấp dẫn với mức tổng thu nhập của công nhân trên 7 triệu đồng, cao hơn nhiều so với mức lương của bạn cùng phòng trọ đang làm nhân viên văn phòng thì chị đâm ra nghi ngờ, sợ công ty cam kết một đường, thực hiện một nẻo nên không dám nộp đơn ứng tuyển. Theo chị N.T.Diệp – công nhân của một công ty sản xuất bao bì tại quận Gò Vấp đã có thâm niên làm việc tại nhiều công ty sản xuất lớn chia sẻ “Thực chất các hứa hẹn hấp dẫn này thường tỉ lệ thuận với thời lượng và mức độ tăng ca liên tục. Thà làm một công ty nhỏ, mức lương vừa phải mà có thời gian và sức khỏe cho cuộc sống riêng còn hơn “cày” cả tháng để rồi tốn tiền mua thuốc uống”.

Không đến mức bi quan như chị Diệp, nhưng lý do anh T.M.Minh – buôn bán thức ăn dạo trên địa bàn huyện Bình Chánh lại là: làm việc tự do quen rồi, vào xí nghiệp gò bó khó chịu, không có thời gian đưa hai đứa nhỏ đi học. Trong khi đó, lượng lao động nhập cư tự do như anh Minh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng số lao động phổ thông tại khu vực TP HCM.

Tuy nhiên, trong khi nhiều doanh nghiệp đang “đau đầu” tìm kiếm nhân sự thì một số công ty, dù quy mô sản xuất không lớn nhưng lại có nguồn lao động khá ổn định, đơn cử như công ty T.H nơi chị N.T.Diệp làm việc đã được hơn 3 năm. Mặc dù công ty chỉ khoảng 20 nhân công, kinh doanh trong lĩnh vực gia công đóng gói và sản xuất bao bì nhưng từ khi thành lập vào năm 2010 đến nay, số lượng công nhân tại đây hầu như vẫn không thay đổi. Nói về nguyên nhân mình vẫn chấp nhận làm việc tại đây dù mức lương trung bình chỉ khoảng 2,5 triệu/tháng, thấp hơn rất nhiều so với công ty may mặc sát bên đang đăng tuyển công nhân với mức lương trên 5 triệu/tháng, chị Diệp cho biết “Ở công ty, điều mà chị và các đồng nghiệp thích nhất chính là môi trường làm việc rất vui vẻ, các sếp lại tâm lý và chú trọng đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân viên. Mỗi dịp lễ nhỏ hay lớn, dù cho tình hình công ty có khó khăn thế nào thì công nhân vẫn được thưởng rất khá. Đó là chưa kể có trường hợp đồng nghiệp bị tai nạn nghề nghiệp do bất cẩn trong thi công, công ty đã chịu toàn bộ tiền viện phí. Không những vậy ban giám đốc còn liên tục động viên, thăm hỏi. Theo chị, chính tình người và sự quan tâm chu đáo đã giữ chị lại với công ty”

Theo bà Mai Hiền - Trưởng Phòng tư vấn tuyển dụng trang web Careerlink, để có thể đạt hiệu quả trong tuyển dụng nhân sự, các công ty cần phải xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên nhu cầu chính đáng của người lao động, không chỉ trên điều kiện về vật chất như lương, thưởng, chính sách hỗ trợ v.v… mà còn phải thật sự quan tâm đến nhu cầu tinh thần và mong muốn được tôn trọng từ phía người lao động. Một công ty có chế độ chính sách và văn hóa doanh nghiệp tốt sẽ dễ dàng tuyển người và giữ người. Đồng thời, trong tình trạng khan hiếm lao động như hiện nay, cùng với sự “chảy ngược” lao động từ thành thị về nông thôn như mấy năm gần đây, việc chủ động tiếp cận trực tiếp với ứng viên như công ty M.G hay thông qua các công ty, trung tâm môi giới tuyển dụng cũng có thể là giải pháp khá hiệu quả mà các doanh nghiệp có thể cân nhắc để áp dụng, tùy thuộc vào tình hình và nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp.